Hiển thị các bài đăng có nhãn VIỆT NAM KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VIỆT NAM KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Tăng trưởng tín dụng ngân hàng 2012: Ai ở nhóm nào?



MINH ĐỨC

05/01/2012 10:03 (GMT+7)

picture Định vị các ngân hàng trên cơ sở dữ liệu năm 2010 về tổng tài sản, ROA, ROE, NPL - Nguồn: Baoviet Bank.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Đến thời điểm này thông tin bước đầu mới chỉ dừng lại ở định hướng: năm 2012, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ được phân bổ theo 4 nhóm. Kết quả phân nhóm cụ thể vẫn còn ở phía trước. Năm 2012 đã bắt đầu. Thông thường trước đây, bước vào một năm mới các ngân hàng thương mại về cơ bản đã trù tính các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh ngay từ cuối năm cũ. Năm nay có thể không có nhiều thay đổi, nhưng một chỉ tiêu quan trọng bậc nhất là giới hạn tăng trưởng tín dụng vẫn còn treo lơ lửng! Một phép cộng tương đối? Thực ra, với những thông tin bước đầu Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra, mỗi nhà băng hẳn cũng đã tự lượng sức mình, áng chừng một chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng nào đó. Nhưng ở bình diện chung vẫn là sự chờ đợi sốt ruột. Theo thông tin định hướng của Ngân hàng Nhà nước, năm 2012 chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ ở khoảng 15 - 17%. Chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể sẽ được giao theo các nhóm trên cơ sở xếp loại các tổ chức tín dụng của cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước, theo nguyên tắc tổ chức nào hoạt động tốt thì được mức tăng trưởng tín dụng cao hơn, và ngược lại. Cụ thể hơn, sẽ có 4 nhóm tổ chức tín dụng được phân loại, gồm nhóm hoạt động lành mạnh (loại A), nhóm hoạt động trung bình (loại B), nhóm hoạt động dưới trung bình (loại C), và nhóm hoạt động yếu kém. Hiện chưa rõ ứng với mỗi nhóm như vậy sẽ được giao chỉ tiêu là bao nhiêu; cũng không loại trừ khả năng chỉ tiêu của mỗi thành viên trong nhóm sẽ khác nhau; mức độ chênh lệch chỉ tiêu giữa các nhóm sẽ như thế nào… Nhưng có thể hình dung đó là một phép cộng làm sao để tổng 4 nhóm đó có kết quả chung là 15 - 17% cho cả năm 2012. Chỉ tiêu của nhóm A, tốt nhất và cao nhất, có thể cũng sẽ không quá xa so với giới hạn định hướng chung 15 - 17% đó, bởi nhiều khả năng nhóm này sẽ tập hợp những ngân hàng lớn, thị phần chi phối và một sự vượt trội có thể làm “chệch” tổng số chung. Hiện cũng chưa rõ các tiêu chí phân loại cụ thể như thế nào, mà mới chỉ gợi mở ở những khái niệm chung là “lành mạnh”, “trung bình”, “yếu kém”… Song chắc chắn sẽ vẫn phải tôn trọng các chỉ số tài chính cơ bản, cũng là một yêu cầu khách quan để hạn chế sự hoài nghi có cơ chế xin - cho trong dư luận về vấn đề này. Thử “đoán” kết quả… Đến thời điểm này các chỉ số tài chính cơ bản của hầu hết các ngân hàng kết thúc năm 2011 vẫn chưa được tổng hợp và công bố rộng rãi. Đây là cơ sở dữ liệu cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét phân loại; việc tập hợp cần có thời gian và kết quả cụ thể vẫn còn phải chờ đợi. Với mỗi tổ chức tín dụng, lúc này hẳn họ đã tự đình hình cho mình ở nhóm nào. Còn trên bình diện chung, có thể tham khảo một cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ và gần đây để thử “đoán” kết quả. Nếu theo thông tin ban đầu còn khá mơ hồ từ Ngân hàng Nhà nước, nhóm A là “lành mạnh”, thì có thể xét theo tiêu chí nợ xấu hay không? Nếu vậy, dữ liệu cuối năm 2010 cho thấy những ứng viên nổi bật cho nhóm A là ACB, Sacombank, VietinBank… khi nợ xấu chỉ ở trong khoảng 0,4% - 0,7%; trong khi phần lớn các nhà băng khác ở nhóm B với khoảng từ 1,2% - 2%; các nhóm còn lại cũng tương đối với khoảng trên dưới 2,5%, cá biệt một số trường hợp trên bình quân ngành là 3%, hay trên 10% (chưa có sự kiện ngân hàng hợp nhất)… Ở tiêu chí đó cũng khá khó đoán, bởi năm 2011 nợ xấu của hệ thống ngân hàng có sự gia tăng mạnh, có khác biệt lớn giữa các thành viên và đặc biệt là còn có sự “lệch pha” trong các tiêu chuẩn phân loại. Trong khi đó, cũng theo dữ liệu cuối năm 2010, có thể định hình các nhóm khá rõ ràng trên cơ sở phân tích tổng hợp các tiêu chí cơ bản là tổng tài sản, tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và cả nợ phân loại. Theo những tiêu chí đó và dữ liệu cập nhật cuối năm 2010, tháng 5/2011 vừa qua nhóm phân tích của Ngân hàng Bảo Việt (Baoviet Bank) đã có một báo cáo với sự phân loại đáng chú ý, có thể tham khảo trong vấn đề này.
Kết quả phân loại qua tổng hợp các tiêu chí trên cho thấy nhóm có triển vọng gồm những ngân hàng như BIDV, VietinBank, Vietcombank, ACB, Eximbank, Techcombank, Sacombank, MB, VIB, Maritime Bank, DongA Bank, Habubank, Ocean Bank; kế đến là Agribank, SeABank, ABBank, OCB, NVB, Kienlong Bank, SCB, BacA Bank…
Đó là một sự phân nhóm tương đối, có sự giao thoa giữa các nhóm và nhất là có thể có nhiều xáo trộn khi cập nhật kết quả hoạt động của năm 2011. Nhưng ở thời điểm này, đây là một tham khảo đáng kể. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm khác nhau trong việc phân nhóm các tổ chức tín dụng để giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay. Có thể “đơn giản” là cần xem xét kỹ các trường hợp có “tiền sử” cho vay quá nhiều ở các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán; có thể ưu tiên cho những thành viên có tỷ trọng tín dụng cao ở lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp - nông thôn… Hay một quan điểm được chú ý thời gian qua là đề cao tiêu chí hệ số an toàn vốn (CAR), xem đó như một thước đo quan trọng cho tình hình sức khỏe của các nhà băng. Nếu vậy, giả sử tham khảo cho lúc này vẫn là dữ liệu năm 2010, thì kết quả phân nhóm sẽ có những điểm thú vị, bởi những “ông lớn” như Agribank, Vietcombank, BIDV… không có ưu thế cạnh tranh vì chỉ suýt soát mức tối thiểu 9% theo quy định hiện hành; trong khi đó nổi bật sẽ là Eximbank với 17,79%, hay như VPBank 14,29%, SHB 13,8%, SeABank 12,61%... Cuối cùng thì vẫn phải đợi kết quả phân nhóm và các chỉ tiêu chính thức từ Ngân hàng Nhà nước. Lúc này chỉ có thể khẳng định là dù có phân loại thế nào thì cũng gần như không thể trở lại thời kỳ “no dồn” tăng trưởng tín dụng những năm 2010 trở về trước; và việc phân loại được kỳ vọng sẽ phát huy các nguồn lực đúng chỗ và đúng địa chỉ hơn. Nhân tiện, một kết quả khác mà thị trường cũng đang chờ đợi là việc rút tỷ trọng tín dụng phi sản xuất xuống 16% vào thời điểm 31/12/2011 đã kết thúc như thế nào?
source
http://vneconomy.vn/20120105014648621P0C6/tang-truong-tin-dung-ngan-hang-2012-ai-o-nhom-nao.htm

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Việt Nam cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại bị nợ xấu đe dọa



VIỆT NAM - NGÂN HÀNG -
Bài đăng : Thứ năm 22 Tháng Mười Hai 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 22 Tháng Mười Hai 2011

Việt Nam cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại bị nợ xấu đe dọa

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Hà Nội
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Hà Nội
REUTERS

Trọng Nghĩa

Ngày 06/12/2011 vừa qua, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức loan báo việc hợp nhất ba ngân hàng nhỏ tại Sài Gòn thành một định chế tài chánh lớn hơn. Đây là một trong những biện pháp cải tổ đang được chính quyền Việt Nam tiến hành với hy vọng cứu vãn được hệ thống ngân hàng trước nguy cơ bị các món nợ xấu to lớn đánh sụp.

Về bề nổi thì khu vực ngân hàng tại Việt Nam rất phát triển, với cả trăm ngân hàng đua nhau hoạt động, từ các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng gọi là tư nhân, cho đến các chi nhánh ngân hàng ngoại quốc. Thế nhưng, đa số các định chế tài chánh này lại rất yếu, vốn liếng rất hạn chế và một số đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản đáng kể.

Theo hãng tin Pháp AFP, ông Lê Thẩm Dương, trưởng khoa Quản trị Kinh doanh trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã cho đấy mà một điểm yếu kém cực kỳ nguy hiểm. Đối với ông : "Có quá nhiều ngân hàng nhỏ," và "những khó khăn thì rất lớn".

Trong số các khó khăn đặt ra cho ngành ngân hàng Việt Nam, nghiêm trọng nhất có lẽ là khối lượng khổng lồ của các khoản nợ khó đòi, đã phình lên với đà gia tăng nhanh chóng của tín dụng trong một chục năm gần đây.

Theo AFP, từ năm 2000 đến nay, trị giá các món nợ mà hệ thống ngân hàng Việt Nam nắm giữ đã được nhân lên 14 lần, đạt tỷ lệ 244% GDP vào tháng 9/2011 vừa qua. Với các thủ tục cho vay thiếu chặt chẽ, bên cạnh nhiều nhân tố khác, cũng dễ hiểu là các khoản nợ xấu đã bành trướng theo đà tăng của khối tín dụng.

Số liệu chính thức của Nhà nước hiện nay cho thấy các khoản nợ xấu "chỉ" chiếm 3,2% trên tổng số nợ. Theo ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ này "có thể lên đến mức 5%" trong vài tuần lễ tới đây.

Theo giới quan sát, khối lượng nợ xấu còn có thể cao hơn rất nhiều trong thực tế. Theo hãng phân tích kinh tế Capital Economics, các món nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể "cao hơn 15%, tạo ra vấn đề lớn đối với ngành ngân hàng ".

Dưới áp lực của các cơ quan thẩm định tài chánh quốc tế, cũng như các nhà tài trợ - đã hứa cấp cho Việt Nam 7 tỉ đô la tín dụng trong năm 2012 - chính phủ đã bị buộc phải xúc tiến kế hoạch tái cơ cấu ngành tài chánh.

Việc sát nhập các ngân hàng nhỏ yếu thành các định chế lớn mạnh hơn nằm trong khuôn khổ đó. Theo ông Cao Sỹ Kiêm, Việt Nam sẽ "cố gắng giảm một nửa số lượng ngân hàng vào năm 2015 ".

Tuy nhiên, giới quan sát vẫn thận trọng. Ông Tony Foster, thuộc văn phòng luật Freshfields Bruckhaus Deringer nhận định : “Làm sao mà việc sát nhập ba ngân hàng nhỏ có thể làm cho nợ xấu mất đi như nhờ một phép mầu "
source
RFI Vietnamese

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

Nhiều tàu mẹ ngưng ghé cảng Cái Mép


Ngày 05.09.2011, 06:40 (GMT+7)

Nhiều tàu mẹ ngưng ghé cảng Cái Mép

SGTT.VN - Đối mặt với tình trạng hàng xuất khẩu tăng trưởng kém, nhiều hãng tàu thông báo tạm ngưng đưa tàu mẹ vào cảng nước sâu Cái Mép (Vũng Tàu).

Tàu mẹ bỏ cảng, container trở lại hành trình vận chuyển bằng tàu con sang Singapore, Hong Kong để nối tàu mẹ, giá thành vận tải tăng. Ảnh: Ca Hảo

Nếu như năm 2010 nhiều hãng tàu muốn đưa tàu mẹ vào Cái Mép khai thác càng sớm càng tốt vì lo thiếu cầu cảng, thì năm nay đến lượt cảng lo vắng tàu. Một số cảng nước sâu khu vực sông Thị Vải rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng. Một số cảng lớn hiện chỉ còn một tàu cập bến xếp dỡ hàng trong một tuần trong lúc công suất thiết kế là 6 – 7 tàu trong một tuần. Có cảng nước sâu thiết kế chủ yếu cho tàu container nhưng do vắng tàu, nên nhận cả hàng rời, hàng xá để duy trì hoạt động.

Cảng vắng tàu

Từ đầu năm 2011, do lượng container xuất khẩu tăng không như kỳ vọng, nhiều hãng rút tàu mẹ khỏi Việt Nam. Nhóm CKYH gồm các hãng Cosco, Kline, Yangming, Hanjin đã không ghé cảng Cái Mép từ tháng 5 trên hải trình từ Á sang Âu. Hãng tàu CSAV ngưng khai thác tuyến từ Cái Mép đi bờ Tây Mỹ từ tháng 6. Trong tháng 10 tới, mùa thấp điểm của vận tải biển đi châu Âu và Mỹ, một số hãng tàu lớn có kế hoạch bỏ ít nhất là hai tuyến dịch vụ từ Cái Mép đi cảng Los Angeles và Seattle thuộc bờ Tây Mỹ.

Một vài hãng tàu kể trên bỏ hẳn tuyến dịch vụ từ Viễn Đông đi Mỹ và các hãng còn lại vẫn duy trì dịch vụ từ Trung Quốc và các nước khác mà chỉ không ghé cảng Việt Nam. Nguyên nhân chính từ việc ngưng tuyến dịch vụ từ cảng Cái Mép là do xuất phát từ việc khai thác tàu mẹ không hiệu quả, một phần do lượng hàng xuất khẩu sụt giảm, một phần do tăng trưởng không như kỳ vọng. Một số đại lý cho rằng, việc hãng tàu bỏ cảng Cái Mép là để cơ cấu lại tuyến hải trình để cắt giảm chi phí và giảm lỗ. Tàu mẹ sẽ trở lại khi hai nền kinh tế lớn của thế giới là châu Âu và Mỹ phục hồi.

Năm 2009, thời điểm các hãng tàu nước ngoài chọn các cảng nước sâu ở khu vực Cái Mép – Thị Vải để mở tuyến vận tải trực tiếp đi Mỹ và châu Âu có nguyên nhân từ sự kỳ vọng vào sự phục hồi của các nền kinh tế lớn của thế giới cùng với triển vọng kinh tế phát triển của Việt Nam. Nay thì kinh tế toàn cầu đứng trước câu hỏi lớn về mô hình hai đáy của khủng hoảng, thì vận tải biển chưa thể phục hồi.

Chuyển tải làm tăng giá thành của hàng hoá

Tình trạng cảng thiếu tàu như hiện nay sẽ chỉ kéo dài cho đến lúc ngoại thương khởi sắc trở lại. Hàng loạt hãng tàu thông báo lỗ hàng trăm triệu đôla Mỹ trong báo cáo sáu tháng đầu năm và được đăng tải rộng rãi trên truyền thông quốc tế.

Riêng tại Việt Nam, do nguồn cung của các hãng tàu tăng lên cộng với việc xuất khẩu ì ạch, các hãng tàu đang cạnh tranh rất gay gắt khiến giá cước giảm. So với cùng kỳ năm ngoái, giá cước đi châu Âu giảm khoảng 60%, Mỹ giảm 40%.

Trước mắt, việc vài hãng tàu tuyên bố không khai thác tuyến dịch vụ trực tiếp từ Việt Nam sẽ tạm thời làm chi phí vận tải container tăng lên. Hiện chi phí chuyển tải một container 20 feet từ TP.HCM sang Singapore khoảng 200 đôla Mỹ. Chừng nào tàu mẹ chưa quay lại Cái Mép, khi ấy hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị đội giá thành và tiếp tục gặp bất lợi so với hàng hoá Trung Quốc, vốn có chi phí vận chuyển thấp hơn. Ngoài bất lợi về chi phí, thì phải kể đến bất lợi về thời gian giao hàng vì hàng hoá sẽ đến cảng đích chậm hơn do thời gian chuyển tải.

Một trong các yếu tố khiến hàng xuất đi đội chi phí là phí vận tải nối tuyến. Các tài xế xe container hầu như rất ngán ngại khi được chủ hàng yêu cầu hạ hàng tại Cái Mép. Cho tới hiện nay, hãng tàu vẫn duy trì tuyến đường thuỷ vận chuyển container bằng sà lan cho doanh nghiệp từ trong khu vực TP.HCM ra Vũng Tàu mà không thu thêm đồng nào. Trong khi đó chi phí vận chuyển một container 40 feet bằng đường bộ ra Vũng Tàu là khoảng 3 triệu đồng.

Khi tàu mẹ bỏ cảng, container lại tiếp tục như trước kia được vận chuyển bằng tàu con (feeder) để đến Singapore, Hong Kong để nối tàu mẹ. Nhiều tuyến feeder đang hoạt động cầm chừng lại được hồi sinh.

Vũ Hy

source

http://sgtt.vn/Kinh-te/152411/Nhieu-tau-me-ngung-ghe-cang-Cai-Mep.html

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Vẫn cần phá giá


Vẫn cần phá giá


Từ trước tới giờ tôi vẫn luôn là người đề xuất câu chuyện phá giá VNĐ. Gần đây nhất, trong bài “Vẫn là chuyện phá giá tiền đồng” tôi cho rằng tỷ giá cuối năm cần phải được điều chỉnh tới mức 21,500 tới 22,000 đồng/1USD. Tuy nhiên lập luận trong bài này khá đơn giản, chủ yếu dựa trên việc so sánh lạm phát giữa đồng USD và đồng VND.
Gần đây tôi có cuộc trao đổi với Ts. Lê Hồng Giang trong khuôn khổ một cuộc hội thảo kinh tế tổ chức ở Sài Gòn xung quanh vấn đề tỷ giá. Thuyết trình của Ts. Giang về vấn đề này giúp phân tích sâu hơn lý do tại sao phải phá giá. Theo ông, chính sách tỷ giá hối đoái của chính phủ cần quan tâm tới cả ba yếu tố:

1.Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng tiền VNĐ với các ngoại tệ (tỷ giá hối đoái danh nghĩa riêng lẻ). Đây là các số liệu mà Việt Nam từ trước tới nay vẫn quan tâm.

2. Tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền VNĐ với một rổ các ngoại tệ của các nước mà Việt Nam có quan hệ ngoại thương (tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực, viết tắt là NEER). Tỷ giá NEER có thể hiểu đơn giản là nếu coi toàn bộ phần còn lại của thế giới là một nước có một đồng tiền duy nhất thì NEER là tỷ giá danh nghĩa giữa VNĐ và đồng tiền của nước đó.

3. Tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền VNĐ với một rổ các ngoại tệ của các nước mà Việt Nam có quan hệ ngoại thương nhưng đã được hiệu chỉnh theo lạm phát của các nước (tỷ giá hối đoái thực tế hiệu lực, viết tắt là REER).
Trong 03 chỉ số này, REER là chỉ số quan trọng nhất vì nó trực tiếp phản ánh tác dụng của chính sách tỷ giá lên năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nếu tỷ giá REER của đồng VNĐ lên giá, thì năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam sẽ kém đi. Ngược lại, nếu tỷ giá REER của đồng VNĐ xuống giá, thì năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam sẽ được cải thiện.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trên thực tế chỉ quan tâm đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa riêng lẻ giữa đồng VNĐ và từng đồng tiền của mỗi nước và điều hành chính sách tỷ giá của VNĐ dựa trên con số này.

Ts. Giang đã tính toán các chỉ số này và thấy rằng từ 1995, đồng VNĐ đã được NHNN điều chỉnh xuống khoảng hơn 40% so với đồng USD. Trong giai đoạn 1995 tới 2004, tỷ giá REER cũng được điều chỉnh xuống khoảng 10%, tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2004 tới nay, do lạm phát ở Việt Nam quá cao và việc phá giá chưa đủ, tỷ giá REER đã tăng lên, cao điểm tới 35% vào năm 2009 trước khi giảm bớt xuống. Tính chung cả giai đoạn 1995 tới nay, REER đã tăng khoảng 5%. Điều này đồng nghĩa với việc chính sách tỷ giá chưa tạo được lợi thế cạnh tranh cho hàng Việt Nam.

Đương nhiên là lợi thế cạnh tranh của hàng Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào vấn đề tỷ giá REER. Ngoài câu chuyện tỷ giá, còn có các yếu tố khác (về mặt chính sách) có tác dụng tích cực đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt ở nước ngoài như việc tham gia WTO kéo theo thuế áp lên hàng nhập khẩu từ Việt Nam giảm đi.

Thế nhưng, theo cách nói của kinh tế học, nếu các yếu tố khác không đổi thì chính sách tỷ giá của NHNN đã khiến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam ở nước ngoài kém đi. Và như thế, có lẽ NHNN nên xem lại chính sách này. Mà như vậy, có lẽ để duy trì năng lực như cạnh tranh như hồi năm 1995 thì Việt Nam cần phá giá thêm khoảng 5% nữa, và để duy trì năng lực như cạnh tranh như hồi năm 2004 thì Việt Nam cần phá giá thêm khoảng 10%. Điều đó cũng có nghĩa VND/USD có lẽ nên nằm mở mức 22,000 – 23,000 đồng ăn một USD.

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

source

VOA VIETNAMESE

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Việt Nam tăng cường nỗ lực cấm mua bán đôla trên thị trường tự do


Việt Nam Cập nhật Thứ Năm, 10 tháng 3 2011

Việt Nam tăng cường nỗ lực cấm mua bán đôla trên thị trường tự do

Hình: AP

Chứng khoán ở Việt Nam hôm nay tăng giá sau khi giới hữu trách tăng cường các nỗ lực để cấm mua bán đô la Mỹ trên thị trường tự do, kể cả việc bắt giữ những người mua bán đô la trên thị trường chợ đen.

Bản tin hôm thứ Năm của Wall Street Journal trích lời các nhà mua bán ngoại tệ và các giới chức ngân hàng cho hay tỉ giá ở các tiệm vàng cũng sút giảm sau diễn tiến này.

Đài truyền hình nhà nước Việt Nam tối thứ Tư loan tin cảnh sát đã bắt 4 người ở Hà Nội dính líu tới vụ mua bán trái phép 400.000 đô la.

Báo chí ở Sài Gòn hôm thứ Tư cho biết tuy các điểm mua bán ngoại tệ chui ở Hà Nội đã ngưng hoạt động, nhưng ở Sài Gòn những người mua bán đô la tại các tiệm vàng nói rằng họ vẫn mua bán như bình thường, tuy khách hàng có ít đi và họ phải cẩn thận đề phòng sự theo dõi của nhà chức trách.

Nguồn: Wall Street Journal. Tien Phong, VnExpress

source

VOA Vietnamese

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Có thể xóa kinh doanh vàng miếng tự do


Có thể xóa kinh doanh vàng miếng tự do

Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, trong đó có việc quản lý thị trường vàng theo hướng xóa kinh doanh vàng miếng tự do là một trong sáu nhóm giải pháp cấp bách Chính phủ đưa ra.
> Toàn văn nghị quyết

Có thể không còn được mua bán vàng miếng tự do như thế này nữa. Ảnh: Hoàng Hà
Có thể không còn được mua bán vàng miếng tự do như thế này nữa. Ảnh: Hoàng Hà

Ngày 24/2, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về 6 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Với nghị quyết này, Chính phủ yêu cầu thắt chặt của chính sách tiền tệ, tài khóa, cắt giảm bội chi ngân sách nhà nước, đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng. Đảm bảo an sinh xã hội, điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo cũng được xem là một nội dung quan trọng của nghị quyết.

Về chính sách tiền tệ, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%. Vốn tín dụng sẽ được ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vốn dành cho các khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán sẽ giảm dần về tốc độ và tỷ trọng.

Lãi suất và tỷ giá sẽ được điều hành linh hoạt, đảm bảo cung cầu của thị trường. Các biện pháp cần thiết sẽ được triển khai để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý.

Trong quý II, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.

Để thực hiện thắt chặt tài khóa, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu. Việc mua sắm xe công, các thiết bị văn phòng... sẽ tạm dừng, ngân sách nhà nước sẽ không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách.

Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách, các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 sẽ xuống dưới 5% GDP. Dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài phải đảm bảo trong giới hạn an toàn và an ninh tài chính quốc gia.

Liên quan tới nhóm giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, trong quý II, Bộ Công Thương sẽ ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung - cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu, bảo đảm kết hợp hợp lý, gắn sản xuất trong nước với điều hành xuất nhập khẩu. Nhập siêu năm nay sẽ không được vượt 16% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Bộ Tài chính có nhiệm vụ chủ trì xem xét miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu (như dệt may, da giầy, thủy sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,...); tiếp tục tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.

Kỳ Duyên

source

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/02/co-the-xoa-kinh-doanh-vang-mieng-tu-do/

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010

Vinashin "đẩy" phí bảo lãnh nợ của Việt Nam tăng vọt


Vinashin "đẩy" phí bảo lãnh nợ của Việt Nam tăng vọt

Chi phí để đảm bảo cho các khoản nợ của Việt Nam không bị mất khả năng chi trả đạt mức cao nhất trong 17 tháng qua khi các nhà cho vay quốc tế chờ Vinashin thực hiện trả nợ 60 triệu USD đáo hạn vào hôm 20/12.

Theo ngân hàng hoàng gia Scotland Groups Plc, giao dịch hoán đổi các khoản tín dụng không có khả năng chi trả đối với các khoản nợ của chính phủ Việt Nam được định giá ở mức 295 điểm cơ bản vào lúc 13h18 hôm 20/12 tại Singapore. Đây là mức cao nhất kể từ 17/7/2009, giá từ nhà cung cấp dữ liệu CMA.

Moody đã hạ bậc tín dụng của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 vào hôm 15/12 với việc viện dẫn sự rủi ro của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán và nhấn mạnh vào "thảm cảnh nợ nần" tại Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Vinashin.

Trả lời Diễn đàn Kinh tế Việt Nam điện tử tuần trước, chủ tịch Nguyễn Ngọc Sự cho biết Vinashin không có khả năng thực hiện việc trả nợ vì không có nguồn tài chính. Theo chính phủ cho biết vào tháng Sáu, công ty mắc nợ khoảng 86 nghìn tỉ VND (4,4 tỉ USD).

Nếu không thanh toán khoản nợ, Vinashin sẽ "khiến cho bất kỳ một tổ chức Việt Nam nào, dù là công ty nhà nước hay không, mất nhiều hơn để có được các khoản vay từ nước ngoài," Jonathan Pincus, nhà kinh tế học từ trường Harvard Kennedy School tại thành phố Hồ Chí Minh trả lời trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại "Mọi người trong chính phủ dường như không nghĩ đến tác động dài hạn của việc này đến sự tín nhiệm tài chính của Việt Nam."

Giao dịch hoán đổi các khoản tín dụng mất khả năng chi trả trả cho người mua giá gốc nếu người vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình, trừ giá trị của khoản nợ không được trả đúng kỳ hạn.

Một điểm cơ bản tương đương với 1.000 USD hàng năm trên một giao dịch hoán đổi đảm bảo khoản nợ 10 triệu USD. Các hợp đồng giao dịch hoán đổi tín dụng ở mức 287 điểm khi đóng cửa vào ngày 17/12, mức tăng cao nhất trong tuần kể từ 27/8/2010 theo giá CMA.

Quỹ tiền tệ quốc tế trong tháng này cho rằng Việt Nam cần "một gói tích hợp" các biện pháp gồm lãi suất cao hơn để thiết lập lại uy tín của chính sách tiền tệ và làm chậm lạm phát.

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á việc Vinashin gần sụp đổ chỉ ra một "thất bại mang tính hệ thống" trong việc giám sát các công ty nhà nước của các nhà lập pháp.

Vinashin đã thuê Credit Suisse Group Ag giúp hoạch định khoản vay 7 năm trị giá 600 triệu USD vào tháng 12/2008. Một ủy ban thường trực các nhà cho vay, gồm các đại diện từ ngân hàng Thụy Sĩ, Standard Chartered Plc và quỹ dự phòng Elliott Advisors Ltd., đã được thành lập để thương thảo với công ty.

KPMG LLP được chỉ định cố vấn và hỗ trợ Vinashin trong khi nhóm các nhà cho vay thuê công ty luật Allen & Overy LLP làm cố vấn pháp lý.

Edward Middleton, đối tác KPMG tại Hong Kong phụ trách việc tái cơ cấu lại dịch vụ, từ chối bình luận trong một thư điện tử. David Kidd, một đối tác tại Allen & Overy cũng từ chối bình luận.

Đại diện của Vinashin cũng không nghe điện thoại. Người phát ngôn của Credit Suise Adam Harper và một công ty quan hệ công chúng đại diện cho Elliott Advisors cũng từ chối bình luận.

source

http://vef.vn/2010-12-23-vinashin-day-phi-bao-lanh-no-cua-viet-nam-tang-vot

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

Việt Nam có thể lùi tiến độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng


VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Hai, 13 tháng 12 2010

Việt Nam có thể lùi tiến độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng

Hình: REUTERS

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đề nghị chính phủ lùi thời hạn chót để các ngân hàng tăng vốn điều lệ lên 3 ngàn tỷ đồng, khoảng 154 triệu đôla.

Theo một nghị định của chính phủ thì các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào trước hạn chót là ngày 31/12 năm nay, tuy nhiên hãng tin Reuters trích nguồn tin của VnExpress cho hay theo một giới chức Ngân hàng Nhà nước thì Ngân hàng này đang đề xuất với Chính phủ lùi tiến độ tăng vốn điều lệ đối với các ngân hàng thương mại lên mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng do những khó khăn khách quan trong quá trình thực hiện tăng vốn tại tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên giới chức này không cho biết Ngân hàng Nhà nước đề nghị lùi thời hạn này đến khi nào.

Ngân hàng trung ương muốn các ngân hàng thương mại nâng vốn điều lệ trong khuôn khổ một chiến lược nhằm tăng cường hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình tăng vốn của các tổ chức tín dụng thời gian qua đã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khả năng huy động vốn của các ngân hàng nhỏ.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 10, vẫn còn một nửa trong số 22 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ chưa được chấp thuận kế hoạch tăng vốn.

Trong khi đối với số ngân hàng đã được chấp thuận, việc thực hiện vẫn còn là một quá trình hết sức khó khăn.

Hồi cuối tháng 11, Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham) cũng đã khuyến nghị Việt Nam chưa nên thực hiện lộ trình tăng vốn ngân hàng.

Theo cảnh báo của EuroCham, mức độ tăng như vậy là quá lớn và không phù hợp với khung thời gian đưa ra.

Thị trường tài chính Việt Nam cũng không đủ lớn để triển khai một cách thận trọng và làm đòn bẩy cho dòng chảy vốn từ cả ngân hàng trong nước và nước ngoài.

Nguồn: Reuters, VNExpress.net

source

VOA Vietnamese

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Chứng khoán thoát cảnh "chợ chiều"


Thứ Hai, 30/08/2010, 14:43 (GMT+7)

Chứng khoán thoát cảnh "chợ chiều"

TTO - Hơn 90% mã chứng khoán tăng kịch trần trong phiên giao dịch ngày 30-8. Chốt phiên, chỉ số VN-Index tăng mạnh 15,41 điểm (tương đương tăng 3,59%) lên mức 444,55 điểm. Như vậy, trong phiên hôm nay các mốc quan trọng 430 và 440 điểm đã lần lượt được thiết lập.

Cổ phiếu tăng mạnh nhưng nhà đầu tư chưa yên tâm giải ngân mạnh - Ảnh minh họa

Toàn thị trường có đến 242 mã tăng giá, trong khi đó chỉ có chín mã giảm giá và bảy mã đứng giá. Đây là phiên đảo chiều của cổ phiếu ngành dược khi có đến ba mã của ngành này mất giá, đi ngược xu thế thị trường. Đó là mã TRA giảm 2,14% xuống mức giá 41.100 đồng/cp, SPM giảm 0,74% xuống 67.500 đồng/cp và DVD giảm 0,71% xuống 139.000 đồng/cp.

Tuy cổ phiếu đồng loạt tăng giá nhưng giá trị giao dịch trong phiên đầu tuần vẫn chưa được cải thiện nhiều so với phiên cuối tuần trước. Tổng khối lượng giao dịch chỉ đạt 34,6 triệu đơn vị chuyển nhượng; tương đương tổng giá trị giao dịch 849,4 tỉ đồng.

Theo một chuyên gia chứng khoán tại TP.HCM, giá trị giao dịch thấp là một cản trở lớn cho sự quay lại thị trường của các nhà đầu tư đang nắm giữ tiền mặt. Khi giá trị giao dịch chưa được cải thiện thì chưa có sự chắc chắn cho chu kỳ hồi phục của thị trường chứng khoán.

Tương tự, sàn Hà Nội phiên này cũng chỉ có 15 cổ phiếu giảm giá trong số 328 mã cổ phiếu đang giao dịch. Chốt phiên, chỉ số HNX-Index tăng mạnh 6,60 điểm (tương đương tăng 5,58%) lên mức 124,88 điểm.

Tuy nhiên, thanh khoản thị trường Hà Nội lại giảm mạnh so với phiên cuối tuần trước. Tổng khối lượng giao dịch chỉ đạt hơn 20,2 triệu cổ phiếu chuyển nhượng; tương đương tổng giá trị giao dịch 471,1 tỉ đồng.

Mặc dù đã có phiên tăng điểm thứ 3 liên tiếp nhưng các chuyên gia phân tích cho rằng thị trường vẫn chưa thực sự ổn định do thanh khoản vẫn còn thấp, tâm lý nhà đầu tư vẫn còn thận trọng do lo ngại về một đợt bẫy giá lên tiếp theo.

Thị trường vẫn cần thêm những phiên tăng với thanh khoản mạnh và kèm theo sự hỗ trợ của thông tin vĩ mô, để có thể cải thiện tâm lý nhà đầu tư và khẳng định được xu hướng tăng.

Ngoài ra, rủi ro T+ trong đầu tư ngắn hạn vẫn tiềm ẩn trong thời điểm này, trong khi đó nhiều chuyên gia cho rằng đây là thời điểm thích hợp để đầu tư dài hạn vì giá cổ phiếu hiện đã giảm khá mạnh.

Nhà đầu tư giá trị có thể tiếp tục cơ cấu lại danh mục đầu tư một cách hợp lý hơn trong những phiên giảm điểm. Tuy nhiên vẫn cần chú trọng việc giữ cơ cấu tiền mặt cao trong tài khoản.

H.NHỰT

source

http://tuoitre.vn/Kinh-te/Tai-chinh-Chung-khoan/398042/Chung-khoan-thoat-canh-cho-chieu.html

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010

Việt kiều gởi tiền cho cả ‘tông chi họ hàng’


Việt kiều gởi tiền cho cả ‘tông chi họ hàng’
Monday, August 23, 2010



SÀI GÒN (NV)
-
Hàng tỉ đô la được Việt kiều hải ngoại gửi về nước mỗi năm, giúp xây dựng thêm nhiều nhà cửa, mở rộng kinh doanh và trợ giúp cho gia đình, theo USA Today.

Tiền gửi về nước là đường dây sinh tử giữa những người bỏ nước ra đi với người ở lại, và ngày càng phổ thông hơn để Việt kiều đầu tư nơi quê nhà.

Theo Daniel Ayala, trưởng dịch vụ chuyển tiền toàn cầu của Wells Fargo, ‘điều duy nhất chỉ có ở Việt Nam là người ta gửi về cho cả ‘tông chi họ hàng’ chứ không phải chỉ cho những người ruột thịt. Ngoài ra còn dùng tiền để giúp phát triển kinh doanh nữa.’

Hình chụp tại một ngân hàng trao đổi ngoại tệ tại Hà Nội. Theo USA Today, tiền Việt kiều gởi về Việt Nam sẽ tăng đến 7.1% trong năm 2011.

(Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Mark Sidel, một giáo sư ngành luật ở University of Iowa, người chuyên nghiên cứu về sự luân lưu tiền tệ theo lối này nhận xét rằng, trong những năm gần đây, càng có thêm nhiều Việt kiều gửi tiền về nước vì tính cách từ thiện, gồm cả việc liên hệ đến y tế và giáo dục.

Tiền Việt kiều gửi về nước phần lớn không những từ Hoa Kỳ, mà còn từ Úc, Pháp và Canada.

Theo dữ kiện của Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, trong thời gian từ 2001 đến 2008, số tiền gửi về tăng gấp ba, lên đến $7.2 tỉ, tương đương với 8% tổng sản lượng quốc gia. Tuy nhiên năm ngoái tiền gửi về chỉ khoảng $6.8 tỉ do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Cũng theo USA Today, tính chung, tiền gửi về các nước đang phát triển, gồm cả Việt Nam dự trù sẽ tăng 6.2% trong năm nay, và lên đến 7.1% trong năm 2011. Các nước có mức thu nhập từ thấp đến trung bình, trong năm 2008, số tiền gửi về nước là $335 tỉ, số tiền này không những cải thiện được mức sinh hoạt mà còn trợ giúp cho việc nhập cảng của quốc gia, bù lấp được những thâm thủng ngân sách.

Khi việc gửi tiền nở rộ, các nhà tư bản cung cấp dịch vụ tài chánh quan trọng cũng bắt đầu nhảy vào làm ăn. Ở Hoa Kỳ, Wells Fargo cung cấp dịch vụ này đến với 15 nước ở Á Châu và Nam Mỹ.

Trong số các nước mà ngân hàng này phục vụ, mức gửi về nước tính trung bình cho mỗi lần gửi được coi là cao nhất là Ấn Ðộ, với $1,662, kế đến là Việt Nam với $1,369. (TP)

source

Nguoi-Viet Online

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Bộ Chính trị: Không để sụp đổ Vinashin


221
452
Chính trị
chinhtri
/chinhtri/
1298765
Bộ Chính trị: Không để sụp đổ Vinashin
1
Article
null
Bộ Chính trị: Không để sụp đổ Vinashin
,

Chỉ giữ lại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) 3 lĩnh vực liên quan đến công nghiệp đóng tàu, các lĩnh vực kinh doanh đa ngành thì bán, chuyển nhượng, cổ phần hóa. Đây là yêu cầu của Bộ Chính trị sau khi nghe Ban cán sự đảng Chính phủ báo cáo về tình hình Vinashin, ý kiến của Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Bộ Công an và một số bộ, ngành tại phiên họp ngày 31/7.

Theo đánh giá của Bộ Chính trị, từ khi được thành lập vào năm 1996 đến nay, Tập đoàn Vinashin (trong đó từ năm 1996 đến năm 2006 là Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) đã có bước phát triển nhanh trên nhiều mặt.

Bước đầu đã hình thành được cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng, có trình độ công nghệ tiên tiến và khá đồng bộ của ngành công nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển; xây dựng được đội ngũ trên 70.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật, trong đó nhiều người có tay nghề khá, có khả năng đóng được nhiều loại tàu phục vụ cho nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của nền kinh tế, quốc phòng, an ninh và cho xuất khẩu, kể cả tàu trọng tải trên 100.000 DWT... Từ năm 1996 - 2006, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (35% - 40%/năm), kinh doanh có lãi, tăng được vốn chủ sở hữu và giá trị tài sản của doanh nghiệp.

Bờ vực phá sản

Tuy nhiên, hiện nay, Vinashin đang gặp nhiều khó khăn rất lớn, bộc lộ nhiều yếu kém, sai phạm nghiêm trọng.

Thứ nhất, Tập đoàn đã đầu tư mở rộng quá nhanh, quy mô lớn, một số dự án trái với quy hoạch được phê duyệt, dàn trải trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, có lĩnh vực không liên quan đến công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, trong đó nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, có nhiều công ty, dự án thua lỗ nặng nề.

Thứ hai, tình hình tài chính đứng trước bờ vực phá sản. Ước tính dư nợ hiện lên tới khoảng 86.000 tỉ đồng; nợ đến hạn phải trả khoảng trên 14.000 tỉ đồng; tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp gần 11 lần, khó có khả năng tự cân đối dòng tiền.

Sản xuất, kinh doanh hiện đang bị đình trệ; bị mất hoặc giảm nhiều đơn đặt hàng; nhiều dự án đầu tư dở dang, không hiệu quả. Đã có khoảng 17.000 công nhân chuyển việc hoặc bỏ việc; 5.000 công nhân bị mất việc làm; nhiều công nhân của một số nhà máy, xí nghiệp bị chậm trả lương trong nhiều tháng...

Mô tả ảnh.

Mặc dù nhận định Vinashin vẫn trong tầm kiểm soát và có thể khắc phục được, nhưng Bộ Chính trị cho rằng nếu không có các chính sách, biện pháp đúng đắn, kịp thời, tình hình của Vinashin có thể ảnh hưởng xấu đến các tổ chức tín dụng, các đơn vị được nhận chuyển giao, ngân sách nhà nước, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế, việc làm và thu nhập của cán bộ, công nhân Tập đoàn và nhiều hộ gia đình nông dân nơi có đất bị thu hồi; ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp nhà nước và mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước; tác động tiêu cực đến ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Tập đoàn "phình" quá nhanh, Trung ương thiếu giám sát

Bộ Chính trị khẳng định những hạn chế, yếu kém xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân chủ quan, trách nhiệm trước hết thuộc về Hội đồng Quản trị và ban lãnh đạo Tập đoàn, trong đó có cá nhân Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn và trách nhiệm của một số cơ quan quản lý nhà nước có liên quan ở Trung ương và địa phương.

Trình độ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Công ty mẹ và các đơn vị thành viên của Vinashin chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị một tập đoàn kinh tế lớn, đặc biệt là người đứng đầu còn hạn chế về năng lực, có biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện, cá nhân, báo cáo không trung thực, cố ý làm trái, vi phạm pháp luật trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, quyết định của Thủ tướng khi chỉ đạo các hoạt động đầu tư, dự án, vốn cho sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và bố trí cán bộ.

Lãnh đạo Tập đoàn, trước hết là Hội đồng Quản trị và người đứng đầu với chức năng đại diện trực tiếp chủ sở hữu đã có nhiều khuyết điểm, sai lầm trong tổ chức, quản lý, điều hành, nhất là trong việc xác định lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tổ chức quản lý các công ty con, công ty liên kết, tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài chính, vay và trả nợ; trong một thời gian ngắn đã mở rộng quá nhanh quy mô tập đoàn, nhất là mở ra rất nhiều công ty con, công ty liên kết; mở sang một số lĩnh vực không phải là những chuyên ngành phục vụ cho nhiệm vụ chính của mình. Tập đoàn đã chậm xây dựng Điều lệ hoạt động và các quy định quản lý tài chính khác, như: quy chế quản lý tài chính, quy chế quản lý đầu tư xây dựng, các định mức kinh tế kỹ thuật…

Một số cơ quan tham mưu liên quan thuộc Chính phủ, một số địa phương và một số cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát ở Trung ương có thiếu sót, khuyết điểm trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn; chưa sát sao giám sát, kiểm tra chặt chẽ và đánh giá đúng, kịp thời về công tác tổ chức, cán bộ và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) và Kết luận số 45-KL/TW, ngày 10/4/2009 của Bộ Chính trị về việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế; đến nay vẫn chưa phê duyệt được Điều lệ tổ chức, hoạt động và Quy chế quản lý tài chính của Công ty mẹ - Tập đoàn Vinashin.

Nguyên Chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình đang bị tạm giam để điều tra về hành vi "cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng".
Từ năm 2006 - 2009 tuy đã qua 11 lần kiểm toán, kiểm tra, thanh tra nhưng vẫn không phát hiện được đầy đủ, kết luận đúng tình hình và những yếu kém, khuyết điểm nghiêm trọng của Tập đoàn, chưa đưa ra được những biện pháp chấn chỉnh, ngăn chặn, xử lý kịp thời, có hiệu quả, mặc dù những biểu hiện về những khó khăn, khuyết điểm của Vinashin đã được cơ quan thông tin đại chúng và dư luận phản ánh, cảnh báo từ sớm và nhiều lần.

Về nguyên nhân khách quan, Bộ Chính trị kết luận rằng mô hình tập đoàn còn đang trong giai đoạn thí điểm, chưa có sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả; thể chế, cơ chế còn thiếu hoặc chưa đồng bộ. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới gần đây đã ảnh hưởng nặng nề đến phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, trong đó có Vinashin.

Minh bạch tài chính các tập đoàn

Để khắc phục có hiệu quả những khuyết điểm, sai phạm trên đây của Vinashin, Bộ Chính trị giao Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì chỉ đạo:

- Khẩn trương cơ cấu lại Tập đoàn Vinashin theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) và Kết luận của Bộ Chính trị về việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế; chỉ tập trung vào 3 lĩnh vực chính là: Công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu biển; đào tạo, nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp tàu biển. Sớm ổn định tổ chức sản xuất, kinh doanh; từng bước củng cố uy tín thương hiệu Tập đoàn Vinashin; cương quyết không để vỡ nợ, sụp đổ, gây tác động xấu đến sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu, mức độ tín nhiệm vay, trả nợ quốc tế và môi trường đầu tư của đất nước.

- Khẩn trương đánh giá lại chính xác, khách quan, trung thực tình hình hoạt động của Công ty mẹ Tập đoàn, các công ty con, công ty liên kết, các dự án đầu tư của Tập đoàn để có phương án sắp xếp, xử lý cụ thể, phù hợp, theo hướng: Chỉ giữ lại Tập đoàn Vinashin 3 lĩnh vực chính nói trên; bán, chuyển nhượng, chuyển giao, cổ phần hoá các lĩnh vực còn lại cho các tổ chức kinh tế và cá nhân khác có nhu cầu phù hợp pháp luật hiện hành, sớm thu hồi vốn để tập trung cho nhiệm vụ xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu biển và trả nợ.

Trong xử lý nợ và tăng vốn điều lệ của Tập đoàn, nhất là những khoản liên quan đến ngân sách nhà nước, Chính phủ cần có phương án khả thi, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Trong quá trình giải quyết phải đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích giữa các bên, không gây khó khăn, đổ vỡ cho các tập đoàn, tổng công ty khác cũng như các tổ chức tín dụng. Chú ý hạn chế tối đa thiệt hại và những ảnh hưởng tiêu cực về tư tưởng, tài sản và việc làm, thu nhập của công nhân, lao động.

Bộ Chính trị cũng giao các cơ quan chức năng sớm điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh, kịp thời, khách quan những cá nhân vi phạm pháp luật theo đúng quy định của pháp luật.

Thành lập Ban Chỉ đạo do Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng ban với thành phần gồm đại diện các bộ, ban, ngành có liên quan thuộc Chính phủ, một số cơ quan đảng (Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương). Giao Ban Chỉ đạo đầy đủ thẩm quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong việc nghiên cứu, đề xuất, triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp xử lý để sớm ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn.

Đồng thời, tiến hành tổ chức các hoạt động giám sát, kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng tình hình hiện nay và công khai, minh bạch tình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước khác, trong đó chú ý kịp thời chấn chỉnh việc mở rộng đa ngành nhưng không liên quan đến ngành sản xuất chính của các đơn vị.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo kiểm điểm những tổ chức và cá nhân có liên quan ở Trung ương và địa phương có thiếu sót, khuyết điểm trong việc quản lý nhà nước đối với Tập đoàn Vinashin, việc thực hiện chức năng tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu đối với Tập đoàn Vinashin; thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát việc xử lý các cá nhân sai phạm.

  • PV
  • source
  • http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Bo-Chinh-tri-ra-ket-luat-ve-Vinashin-927611/

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Trung Quốc Bần Thần Tây Tiến


July 16, 2010


NGUYỄN XUÂN NGHĨA-Việt Tribune

Tiến thoái lưỡng nan vì đạp ga hay đạp thắng?

Vừa phát động màn quảng cáo huê dạng nhất – Ngân hàng Nông nghiệp (ABC) lần đầu tiên phát hành cổ phiếu cho công chúng (IPO theo thuật ngữ tài chánh) trên các thị trường Thượng Hải và Hương Cảng để quơ vào tới 22 tỷ đô la, lãnh đạo Bắc Kinh bỗng thấy bần thần. Nên kích cầu hay hạ nhiệt? Nên đạp thắng hay tống ga? Và con đường Tây tiến sẽ dẫn tới đâu?

Truyền thông mù lòa và các nhà bình luận đầy cảm tính (...) thì coi việc ngân hàng thứ tư trong bốn đại gia Hoa lục chơi trò văn minh là huy động vốn trên thị trường chứng khoán là dấu hiệu trưởng thành của Trung Quốc. Bắc Kinh đã chen chân vào hội lạc: trong 10 ngân hàng lớn nhất thế giới ngày nay có bốn ngân hàng Trung Quốc. Số một toàn cầu là Công thương Ngân hàng ICBC. Năm 2006, ICBC phất tay mà lấy được 21 tỷ đô la. Bây giờ, Ngân hàng ABC èo uột nhất trong bốn đại gia lại có thể vượt kỷ lục đó, ai mà không sợ?

Thực tế thì lãnh đạo Bắc Kinh đang ở vào một khúc quanh hiểm nghèo. Bài viết này sẽ nói về chuyện đó.

Tất cả các nền kinh tế vừa chuyển hướng theo quy luật thị trường để kỹ nghệ hoá đều đã đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong những thập niên đầu tiên. Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn hay các nước Đông Nam Á đều đã từng trải qua giai đoạn khởi phát vũ bão ấy, và tạo ra cái mà người ta gọi là “phép lạ Đông Á”. Bây giờ, đến lượt Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam…

Nhưng khác với các nước đi trước, cùng có chung một mẫu số là vừa phát triển kinh tế vừa xây dựng dân chủ, Trung Quốc lại có tham vọng “xây dựng (...)” – là duy trì chế độ (...) – nhưng với màu sắc Trung Hoa, theo kiểu tự do có chọn lọc. Một màu sắc Trung Hoa khác còn là những khác biệt quá lớn giữa các địa phương, giữa các tỉnh duyên hải ở miền Đông và một khu vực bát ngát lạc hậu ở miền Tây. Vì vậy, Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng cao, những với phẩm chất kém về môi sinh và xã hội: hủy hoại môi trường sinh sống và đào sâu bất công xã hội.

Ngân hàng Nông Nghiệp ACB tại Bắc Kinh, Trung Quốc. FREDERIC J. BROWN/AFP/Getty Images


Nguy hiểm nhất là dị biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa khu vực miền Đông với các tỉnh bị khoá trong lục địa ở miền Tây. Hiện tượng ấy ngày càng trở thành trầm trọng vì người dân nghèo khổ phải Đông tiến, trở thành “dân công”, là mò ra tỉnh và đi về vùng duyên hải kiếm việc. Họ ý thức được về sự nghèo khốn của mình khi nhìn thấy những thành tựu “ấn tượng” ở miền Đông.

Nếu kinh tế còn tăng trưởng thì họ còn có việc làm – dù chửa có hộ khẩu – để gửi tiền về nhà cho gia đình. Khi kinh tế bị suy trầm, họ mất việc và phải hồi hương, gia đình bị đói ở nhà sẽ phải nuôi thêm một miệng ăn nữa. Vụ tổng suy trầm 2008-2009 gây chấn động cho lãnh đạo Bắc Kinh vì cả trăm triệu “dân công” bị nguy cơ mất việc như vậy. Hiện tượng động loạn xã hội manh nha từ những năm 2003-2005 có thể lan rộng.

Vì thế, ngay từ tháng 11 năm 2008, Bắc Kinh ráo riết ban hành kế hoạch kích thích kinh tế: bơm 600 tỷ đô la qua tăng chi ngân sách và 1.400 tỷ qua tín dụng ngân hàng vào một nền kinh tế có sản lượng chừng 5.000 ngàn tỷ. Một ngân khoản vĩ đại, và tất nhiên là có công hiệu. Kinh tế Trung Quốc bị đình trệ rất nhẹ rồi lại đạt mức tăng trưởng rất cao, có lúc vượt quá 10%.

Nhưng một hiệu ứng bất ngờ của việc bơm tiền cứu nguy kinh tế là bơm lên trái bóng đầu cơ trong khu vực địa ốc. Còn vĩ đại hơn trái bóng gia cư của Hoa Kỳ hay các nước Âu Châu.

Bây giờ, lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu thấy bần thần.

Nhìn về dài, trong dăm ba năm tới, kinh tế Trung Quốc sẽ không thể đạt tốc độ tăng trưởng rồng cọp như xưa – hiện tượng bình thường sau giai đoạn cất cách ngoạn mục. Chưa kể đến một yếu tố cũng bình thường khác là đà gia tăng dân số đang giảm dần vì chánh sách mỗi hộ một con. Trong trường kỳ, chuyện tăng trưởng 9-10% sẽ là kỷ niệm.

Ngay trước mắt, đà tăng trưởng còn đang bị nguy cơ co cụm vì một đầu máy cố hữu là xuất cảng không thể chạy như xưa: các thị trường nhập cảng lớn nhất là Hoa Kỳ và Âu Châu bị suy trầm, dân chúng Âu-Mỹ đang phải thắt lưng buộc bụng, giảm tiêu thụ và gia tăng tiết kiệm. Không những các thị trường Âu-Mỹ chỉ nhập cảng ít đi, mà còn cố gắng xuất cảng nhiều hơn để nâng sao sản xuất và giảm bớt thất nghiệp. Trong khi ấy, ngày càng có nhiều chỉ dấu cho thấy kinh tế toàn cầu đang bị nguy cơ đụng đáy lần nữa.

Bắc Kinh bần thần vì nếu tốc độ tăng trưởng không lên tới mức 8% thì thất nghiệp sẽ thành vấn đề cho đảng và nhà nước. Vì vậy, họ đang ở giữa một cuộc tranh luận mà truyền thông báo chí bắt đầu tiết lộ ra ngoài.

Từ Tháng Tư vừa qua, Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ) đã ban hành chánh sách kiểm soát khu vực địa ốc để giảm sức ép của trái bóng đầu cơ. Thí dụ như gia tăng tỷ lệ đặt tiền cọc khi mua nhà, nâng cao lãi suất tín dụng gia cư, giảm tín dụng cho các doanh nghiệp địa ốc và những người mua thêm ngôi nhà thứ hai, thứ ba… Quả nhiên là số nhà bán đã giảm mạnh, tới gần phân nửa so với năm ngoái. tại các thị trường nóng như Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh hay Hàng Châu. Chỉ vì nếu không làm bóng xì thì sẽ gặp nạn bóng bể.

Nhưng, chánh sách kềm hãm đó lại bị cưỡng chống tại nhiều nơi.

Các ngân hàng, từ Thượng Hải, Hàng Châu, Nam Kinh đến Thâm Quyến vẫn lặng lẽ tài trợ người mua căn nhà thứ ba – cho mục tiêu đầu tư, nghĩa là đầu cơ. Đằng sau các ngân hàng đó lại là chính quyền địa phương. Họ cần tài hóa lưu thông để cư dân có việc làm, ngân sách thu thêm thuế và bản thân đảng viên cán bộ có thêm hoa hồng. Vì vậy chỉ thị của trung ương không thấm xuống dưới, phép vua vẫn thua lệ làng. Mâu thẫn ấy còn được thấy giữa chỉ thị của bộ Gia cư và sự phe lờ của Hội đồng Thanh tra Ngân hàng.

Vấn đề không chỉ có vậy. Trung Quốc vẫn còn các đại gia đầy quyền thế là doanh nghiệp nhà nước. Trên nguyên tắc, các doanh nghiệp này nằm trong phạm vi quản lý và cải cách của một cơ chế đầy quyền thế làHội đồng Than trah và Quản lý Tài sản Nhà nước. Trong thực tế, các tổng công ty nhà nước vẫn hùng cứ một phương, cứ thấy có lời là nhảy vào thị trường kinh doanh khác, kể cả thị trường bất động sản (Vina(...) đang ngáp ngáp của V(...) chẳng có gì là sáng tạo!)

Và chính là doanh nghiệp nhà nước, được ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ với tín dụng nhẹ lãi đã góp phần thổi lên trái bóng địa ốc. Họ trở nên đại gia địa ốc và làm chủ nhiều khoanh đất bát ngát – tài sản đầu tư của doanh nghiệp. Vì vậy, Hội đồng Quản lý Tài sản Nhà nước (viết tắt theo Anh ngữ là SASAC) phải ra chỉ thị điều hướng cách kinh doanh chệch hướng của công ty quốc doanh: 78 cơ sở đã bị yêu cầu rút khỏi thị trường địa ốc để trở về mục tiêu kinh doanh pháp định ban đầu. Kết quả? Vô phương! Không những vậy, Hội đồng SASAC này còn bọc xuôi theo thực tế và nhắm mắt bỏ qua, trước sự bất lực của Quốc vụ viện và chính quyền trung ương.

Lãnh đạo Bắc Kinh càng bần thần vì sự cưỡng chống của các ngân hàng, chính quyền địa phương hay cơ quan chức năng vẫn có những lý luận “phải đạo”, có cơ sở: khu vực địa ốc gia tăng số cầu về nguyên vật liệu như sắt thép, xi măng, tạo việc làm cho khu vực xây dựng và đem tiền về cho ngân sách địa phương đang phải tăng chi để kích thích kinh tế. Nhưng, chuyện “phải đạo” ấy lại đụng vào chuyện “phải gió” cũng rất có cơ sở: gây nguy cơ lạm phát vì giá nhà gia tăng và nguy cơ tài chánh vì ngân hàng có thể mất vốn trong trò chơi đầu cơ này.

Và trên cùng là sự vô đạo của (...) với màu sắc Trung Hoa. Trong khi một thiểu số có chức có quyền thì thành đại gia, tỷ phú, là “địa ốc chi vương” với đất đai là của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và ngân hàng thống nhất tài trợ với lãi suất ưu đãi thì đa số dân chúng còn lại vẫn chưa có nhà, dù là loại nhà bình dân rẻ tiền. Ở các khu vực lạc hậu trong lục địa, tại miền Tây, thôn dân vẫn chưa ra khỏi thế kỷ 19 và nay đã thoáng biết thế nào là Trung Quốc giàu mạnh của thế kỷ 21. Họ bất mãn với tất cả và đã có những phản ứng rất lạ: vào trường giết hại học sinh. Có khi vì thất nghiệp, thất tình hay phá sản. Một chiến dịch quái đản.

Hiện tượng ấy được chính Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo đánh giá vào Tháng Tư vừa qua là “phản ảnh những mâu thuẫn trầm trọng”. Mâu thuẫn đó vừa được bộ Chính trị nghiêng mình ngó tới sau một phiên họp hôm 28 Tháng Năm. Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, một cơ chế siêu bộ có chức năng kế hoạch, vừa phát động lại chiến dịch “Tây tiến”, sẽ thực hiện từ đầu Tháng Bảy.

Phát động lại vì 12 năm trước, thế hệ lãnh đạo thứ ba, như Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ, cũng đã thấy vấn đề và hạ quyết tâm đầu tư để phát triển miền Tây mà không kết quả vì chẳng mấy ai muốn tham dự. Bây giờ, thế hệ thứ tư như Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng phải xăn tay áo thi hành chính sách đặc biệt với quyết tâm và nhiệt tình.

Trong hai năm rưỡi tới đây, Bắc Kinh sẽ khai triển 23 dự án tại các khu vực Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Tạng và Nội Mông, để nâng cao mức sống của 158 triệu dân. Khi phí cho đợt Tây tiến này là gần 700 tỷ Nhân dân tệ, khoảng 100 tỷ đô la, bằng 2% của Tổng sản lượng toàn quốc. Nghĩa là nhiều lắm. Nhưng kích thước vĩ đại ấy vẫn là chuyện vô vị.

Thứ nhất, việc tăng chi trăm tỷ không là chuyện mới, bằng tiền tươi mà đã được ghi vào ngân sách từ năm ngoái. Thứ hai, ngạch số đầu tư “thêm” như vậy cũng chẳng đáng là bao so với ngân sách thông thường của các địa phương. Nghĩa là kế hoạch “Tây tiến’ chỉ là bức màn khói. Nhu cầu chính trị đòi hỏi vài ba cử chỉ ngoạn mục về miền Tây, thực tế thì cũng chẳng là mới lạ, vĩ đại hay là bước đột phá đáng kể.

Nếu nhìn trên tổng thể như vậy, Trung Quốc không khai thông được ách tắc và vẫn có thể bị động loạn ở địa phương. Chuyện ấy mới là đề tài đáng theo dõi trong mấy tháng tới… [NXN]

source

Việt Tribune

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010

Việt Nam có thể giảm giá tiền đồng thêm 4% để hỗ trợ xuất khẩu


Kinh Doanh Cập nhật Thứ Hai, 10 tháng 5 2010


Tiền Ðồng tại Ngân hàng Á Châu ở Hà Nội
Hình: ASSOCIATED PRESS

Việt Nam có thể sẽ tiếp tục giảm giá tiền đồng thêm 4% trong năm nay nhằm thúc đẩy xuất khẩu và kiềm chế thâm hụt thương mại.

Hãng tin tài chính Bloomberg cho hay các nhà hoạch định chính sách đã giảm giá tiền đồng 2 lần trong vòng 6 tháng qua và động thái này đã giúp làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do xuống tới 12.

Tiền đồng đã giảm 5,9% trong 6 tháng qua và xuống tới mức thấp kỷ lục là 19.100đông/1đôla hôm 12 tháng 2, tức là một ngày sau đợt định giá lại tiền đồng lần thữ hai trong giai đoạn này.

Một nhà nghiên cứu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, bà Hoàng Nữ Ngọc Thủy, cho rằng niềm tin của các nhà đầu tư vào tiền đồng đã gia tăng sau hành động định giá lại tiền đồng này.

Hồi cuối tháng Tư, báo VN Economy cho hay từ đầu tháng Tư giá bán tiền đôla và euro ở thị trường tự do thấp hơn các ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường mua vào và theo nhận định, trong ngắn hạn, tỷ giá tiếp tục xu hướng ổn định. Tuy nhiên, trong dài hạn vẫn còn những mối lo.

Theo ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) thì nguy cơ thâm hụt cán cân thương mại vẫn còn và việc giảm giá tiền đồng là cần thiết để thúc đẩy xuất khẩu và ổn định thị trường ngoại tệ.

Cũng theo ông Hưng thì việc định giá lại tiền đồng sẽ giúp đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính phủ ở mức 6,5% trong năm nay.

Trong khi đó, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cũng nói với hãng tin Bloomberg rằng mặc dù khoản thâm hụt thương mại vẫn còn cao nhưng nguồn thu ngoại tệ năm nay dự kiến sẽ cải thiện đặc biệt là từ du lịch và kiều hối. Cũng theo ông Bình nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng có dấu hiệu gia tăng.

Ông Yumiko Tamura, đại diện Ngân hàng Phát Triển Châu Á tại Việt Nam cho hay khoản dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã giảm từ 23 tỷ đôla xuống còn 15 tỷ đôla vào cuối năm 2009 và khoản sút giảm này phần nào đã khiến ngân hàng trung ương phải can thiệp để hỗ trợ tiền đồng.

Nguồn: Bloomberg, VN Economy

source

VOA Vietnamese

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Trận Chiến Nhân Dân Tệ, Trì hoãn chiến... trong ba tháng


April 09, 2010


NGUYỄN XUÂN NGHĨA/Việt Tribune

Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có mâu thuẫn về việc Bắc Kinh ấn định hối suất đồng Nhân dân tệ (hay đồng Renminbi, viết tắt là RMB, cũng gọi là đồng Nguyên). Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chuyện này.

Trung Quốc giàng giá đồng Nguyên vào đồng Mỹ kim theo một hối suất mà Hoa Kỳ cho là quá thấp, để có thể xuất cảng hàng hóa dịch vụ vào Mỹ với giá rẻ; và ngược lại, hàng Mỹ bán qua Trung Quốc lại trở thành đắt hơn. Theo quan điểm của Mỹ, đấy là một sự cạnh tranh bất chính và nếu chứng minh được rằng Bắc Kinh cố tình can thiệp vào thị trường hối đoái theo lối “thao túng hối suất” – currency manipulation – thì Hoa Kỳ có thể kiện hoặc ban hành biện pháp trả đũa. Chẳng hạn như định ra một thuế biểu phụ trội để hàng xuất cảng của Trung Quốc vào Mỹ sẽ thành đắt hơn. Đắt hơn bao nhiêu thì còn tùy cách tính.

Tiền 100 nhân dân tệ của Trung Quốc được trưng bày. Ng Han Guan/AP Photo.

Ngày xưa, dưới thời Chính quyền George W. Bush, vấn đề đã được đặt ra và Quốc hội Mỹ đòi dựng hàng rào ngăn hàng Trung Quốc với thuế biểu nhập nội đồng loạt tăng 27,5%. Khi ấy, Bắc Kinh đã nhượng bộ và điều chỉnh hối suất đồng Nguyên một cách tiệm tiến. Nghĩa là không giữ hối suất cố định mà thả nổi từng bậc: từ tháng Bảy năm 2005 đến tháng Bảy năm 2008 thì nâng hối suất chừng 20%. Nhưng sau đó, khi kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi hệ thống tài chánh Mỹ bị khủng hoảng từ tháng Chín năm 2008 và gây ra nạn suy thoái toàn cầu, Bắc Kinh lại trở lại chế độ hối suất cố định và tính tỷ giá đồng Nguyên căn cứ trên một “giỏ” có nhiều ngoại tệ nhưng tiền Mỹ là chính.

Vì Mỹ kim sụt giá và đồng Nguyên giảm giá theo, hàng hoá Trung Quốc lại trở thành rẻ hơn.

Lý do từ phía Bắc Kinh là Trung Quốc cần đẩy mạnh xuất cảng để kéo kinh tế ra khỏi nạn suy trầm đang lan rộng khắp nơi. Phía Hoa Kỳ thì phản ứng mạnh vì kinh tế chưa khởi sắc, Mỹ bị nhập siêu nặng, lại càng cần xuất cảng để giảm bớt khiếm hụt ngoại thương và tạo thêm công ăn việc làm cho dân chúng. Việc Bắc Kinh định giá đồng Nguyên quá thấp vì vậy mới thành vấn đề. Mà cũng là vấn đề cho các quốc gia đang cần xuất cảng nhiều hơn – như Nhật Bản và Âu Châu – vì phải vượt qua hàng rào cạnh tranh bất chính bằng đồng Nguyên quá rẻ.

Vấn đề kinh tế của toàn cầu là Trung Quốc phải điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế để tiêu thụ nhiều hơn, nhập cảng nhiều hơn thay vì cứ thắt lưng buộc bụng người dân để xuất cảng hàng hóa và đạt nhập siêu cao, có lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn. Ngược lại, Hoa Kỳ và các nước công nghiệp hoá phải tiêu thụ ít đi, tiết kiệm nhiều hơn và đẩy mạnh xuất cảng để ra khỏi tình trạng nợ nần quá lớn. Cả hai phía đều phải điều chỉnh, nhưng bao giờ thì thi hành, tới mức độ nào và có phối hợp ra sao là loại vấn đề ngoại giao và chính trị.

Vấn đề chính trị là Hoa Kỳ sắp có bầu cử. Trước kỳ bầu cử tháng 11 này, Quốc hội Mỹ và Tổng thống Barack Obama cần chứng tỏ với cử tri là họ quan tâm đến quyền lợi và việc làm của người dân. Ngày 11 tháng trước, ông Obama công bố kế hoạch khuếch trương xuất cảng để nâng mức xuất cảng gấp đôi và tạo thêm hai triệu việc làm trong năm năm tới nhờ xuất cảng. Các Dân biểu và Nghị sĩ cũng đã nạp dự luật đòi trừng phạt Trung Quốc và yêu cầu Bộ Ngân Khố phải chính thức trả lời trong phúc trình định kỳ sẽ công bố ngày 15 tháng này, rằng Bắc Kinh có thao túng hối suất hay không.

Đầu năm ngoái, khi điều trần trước Thượng viện để được phê chuẩn làm Tổng trưởng Ngân khố, ông Timothey Geithner đã mạnh miệng xác nhận rằng Trung Quốc có thao túng hối suất – một lời cáo buộc rất nặng vì có ảnh hưởng tới luật pháp và dẫn tới quyết định trừng phạt về ngoại thương. Sau đó, ông Geither nín thinh và tìm cách luồn lách để khỏi đưa ra kết luận nặng nề như vậy. Bây giờ, Quốc hội Mỹ đòi ông phải trả lời trong một bản phúc trình chính thức.

Thế rồi, hôm mùng ba vừa qua, Tổng trưởng Geithner thông báo là bộ Ngân khố tạm hoãn công bố phúc trình “vì đôi bên sẽ có hàng loạt những phiên họp rất quan trọng ở cấp cao trong vòng ba tháng tới nhằm xây dựng một cơ chế kinh tế toàn cầu vững mạnh, quân bình và bền vững hơn”. Sau đó, ngày Thứ Tư mùng bảy, bộ Ngân khố bất ngờ loan báo tiếp là Tổng trưởng Geithner sẽ hội với Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn tại Bắc Kinh. Dù là phiên họp kín với nghị trình không được thông báo, ai cũng biết rằng đôi bên sẽ nói chuyện về đồng Nhân dân tệ: “nếu quý quốc không điều chỉnh hối suất, Quốc hội chúng tôi ở nhà sẽ có phản ứng mạnh mà thiểm bộ không thể ngăn được đâu!”

Nhưng một chuyến Hoa du của ông Geithner chưa chắc đã giải quyết được vấn đề và ta nhớ lại lời tuyên bố của ông về những “phiên họp rất quan trọng trong vòng ba tháng tới”... Đấy là lúc phải ngó vào tờ lịch.

Thí dụ, như qua tuần tới, tại Thượng đỉnh về An ninh Chiến lược ở thủ đô Hoa Kỳ trong hai ngày 12-13, ông Obama sẽ gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và vấn đề hối suất đồng Nguyên trong quan hệ kinh tế Mỹ-Hoa cũng được đề cập. Sau đấy, cuối tháng Năm sẽ có kỳ họp bán niên – một năm hai lần – về Quan hệ Chiến lược và Kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, là khi mà đôi bên sẽ cùng nêu vấn đề. (Kỳ họp này nằm trong khuôn khổ đối thoại của diễn đàn “U.S.-China Strategic and Economic Dialogue” mà Chính quyền Bush đã thành lập trước đây). Cuối tháng Sáu lại còn có Thượng đỉnh của nhóm G-20 tại Toronto để lãnh tụ hai chục quốc gia giàu mạnh nhất nói chuyện về tái quân bình cơ cấu kinh tế toàn cầu và việc điều chỉnh đồng Nguyên tất nhiên sẽ lại được nêu ra….

Nhìn từ quan điểm quyền lợi tương đồng và xung khắc, Bắc Kinh biết là mình phải điều chỉnh hối suất vì nhiều lý do. Thứ nhất là cho người dân được hưởng nhiều lợi ích hơn từ việc xuất cảng. Thứ nhì là cho thị trường nội địa có sức kéo cao hơn thay vì cứ lệ thuộc vào đầu máy xuất cảng ngày nay sẽ còn èo uột vì các thị trường xuất cảng lớn nhất của họ – Mỹ, Nhật, Âu – đều co cụm với tốc độ tăng trưởng rất thấp. Thứ ba, việc điều chỉnh ấy cũng nằm trong chiều hướng tái phân lợi tức cho công bằng và đồng đều hơn mà thế hệ lãnh đạo thứ tư của những người như Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Uý Kiện Hành đã muốn theo đuổi từ năm 2003 nhưng chưa có kết quả.

Nhìn về dài thì với tư thế một cường quốc kinh tế và lại muốn can thiệp vào thiên hạ sự trên thế mạnh hầu giảm bớt ảnh hưởng quá lớn của Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng muốn đồng Nhân dân tệ phải trở thành một loại ngoại tệ dự trữ, một phương tiện giao hoán phổ biến trân toàn cầu. Muốn như vậy, họ phải thả nổi đồng bạc để quy luật cung cầu của thị trường sẽ quyết định về tỷ giá.

Tuy nhiên, ngay trong lúc này mà Trung Quốc thả nổi thì cũng như tự sát vì cơ chế kinh tế còn quá thô sơ lạc hậu!

Dù biết là phải điều chỉnh, Bắc Kinh chưa thể thả nổi, hoặc nâng hối suất quá mạnh vì sẽ gây nhiều biến động làm cho động loạn xã hội đang manh nha sẽ có cơ bùng nổ. Lãnh đạo của họ lại chỉ còn gần hai năm cầm quyền trước khi chuyển giao cho thế hệ nối tiếp – của những người như Tập Cận Bình hay Lý Khắc Cường – trong Đại hội đảng vào năm 2012. Họ không thể bàn giao một di sản có quá nhiều bất trắc như vậy. Huống hồ, ngay trong nội bộ, Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng phải dung hoà quan điểm với phe bảo thủ và chứng tỏ rằng… ta không sợ Mỹ.

Nghĩa là không phải vì Hoa Kỳ gây sức ép mà mình đã vội chiều theo!

Trong khi ấy, Chính quyền Obama cũng ở vào thế đu dây trước khi có bầu cử giữa nhiệm kỳ và ngày hai tháng 11 tới, và trước khi ông Obama ra tái tranh cử vào năm 2012. Vì vậy, phải gây sức ép vừa đủ để giải tỏa áp lực bên trong, nhưng lại không làm quá và nhất là không nói nặng, để vì thể diện của Thiên triều mà Bắc Kinh sẽ trì hoãn việc điều chỉnh hối suất.

Nhìn từ Trung Quốc thì lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ có ác ý hay gian ý khi mở ra một chiến dịch đầy tính chất thù nghịch: Sau khi kiện cáo Trung Quốc về chuyện vỏ xe rẻ tiền nhập cảng vào Mỹ, Chính quyền Obama lại bán võ khí cho Đài Loan, rồi ông Obama gặp đức Đạt Lai Lạt Ma, trong khi gây sức ép về việc Trung Quốc phải cùng quốc tế trừng phạt Iran, lại còn xé ra to chuyện hãng Google triệt thoái khỏi Hoa Lục… Chính là ấn tượng ấy mới khiến Bắc Kinh cố tình cưỡng chống mặc dù giới chuyên gia của họ đều hiểu và ra khuyến cáo là nên nâng hối suất một cách tiệm tiến như đã làm từ hồi tháng Bảy năm 2005…

Nhìn trên toàn cảnh, ta thấy Bắc Kinh muốn gây ra ấn tượng là Trung Quốc có chủ quyền, sẽ tự ý giải quyết các bài toán của mình khi cần thiết, chứ không do áp lực của bất cứ ai. Nhất là khi ta đang là chủ nợ của Mỹ.

“Người mặc cảm thường hay xuất hư chiêu!” Vì vậy mà trong những tháng tới, Bắc Kinh có thể điều chỉnh rất nhẹ, chừng 2-3%, và nghe ngóng tiếp cho tới mùa Thu thì nhích thêm một bước nhỏ – trước khi dân Mỹ đi bầu – để trong toàn năm thì nâng hốt suất được chừng 5%. Ra cái điều là ta chủ động chứ không bị động!

Nhưng, điều ấy chưa đủ thoả mãn đảng Dân Chủ dưới sức ép của các nghiệp đoàn và xu hướng bảo hộ mậu dịch và còn đẩy Chính quyền Obama vào thế kẹt. Ông Obama sẽ thấy Quốc hội Dân Chủ ưu tiên lo cho việc tái tranh cử vào cuối năm nay hơn là ủng hộ quan điểm lập trường của Tổng thống. Chính quyền của ông sẽ có mấy cuộc họp trong vòng ba tháng tới để thuyết phục Bắc Kinh là nên lùi sâu hơn nữa.

Đấy là bối cảnh chung để ta cùng theo dõi chuyện này trong mấy tháng tới. [NXN]

source

Viet Tribune Online

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ và vụ án Nexus


Việt Nam Cập nhật Thứ Bảy, 27 tháng 3 2010

Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ và vụ án Nexus

Như chúng tôi đã đưa tin, tuần trước, có ba Việt Kiều là Nam Nguyễn, Kim Nguyễn và An Nguyễn ở thành phố Philadelphia đã nhận tội trước Tòa án liên bang Hoa Kỳ đã hối lộ các quan chức (...) để đổi lấy các hợp đồng bán hàng béo bở, vi phạm đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài. Dịp này, chúng tôi đã nhờ Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ giải thích thêm một số điểm pháp lý xoay quanh vụ án Nexus, tên công ty của 3 Việt Kiều vừa nêu. Mời quý vị cùng theo dõi với Huy Phương.

Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ

Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ


VOA: Luật sư Nguyễn Đỗ Phủ ở California có nhiều kinh nghiệm qua các vụ tranh tụng thương mại, đặc biệt là vụ công ty phần mềm VNI của người Việt ở California, kiện đại công ty Microsoft về vấn đề bản quyền gõ chữ Việt trên máy tính. Xin ông tóm tắt đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài (FCPA).

LS Đỗ Phủ: Đạo luật chống tham nhũng của Hoa Kỳ có nghĩa là các công ty Hoa Kỳ khi ra nước ngoài làm ăn không thể dùng tiền của công ty để hối lội các quan chức của nước ngoài để lấy hợp đồng nào đó có lợi cho công ty mình.

Phần đông các nước dân chủ và văn minh trên thế giới đều có luật như vậy, chẳng hạn như Nhật Bản cũng có luật cấm nhân viên dùng tiền để hối lộ để ảnh hưởng đến nhân viên chính phủ của đệ tam quốc gia, những nước nghèo để có lợi nhuận và lấy hợp đồng về cho công ty của mình.

Cũng theo luật này, những người nào xài tiền công ty để hối lộ sẽ bị ở tù.

VOA: Luật này có đặt doanh nhân người Mỹ ở vào vị trí bất lợi so với doanh nhân các nước khác, ví dụ như Trung Quốc?

LS Đỗ Phủ: Một số công ty Mỹ đã đưa vấn đề này ra nhưng theo tôi nghĩ, và các công ty lớn của Mỹ cũng nghĩ luật này là một luật công bằng. Thứ nhất, Hoa Kỳ là một nước lớn, Nhật Bản cũng vậy. Hoa Kỳ tượng trưng cho tự do của thế giới trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, một nước gọi là công bằng trong vấn đề pháp lý. Một nước như vậy mà lại cho phép làm những chuyện đó, dùng quyền lực của một đại công ty để ra ngoại quốc hối lộ để mang về lợi nhuận cho công ty của mình, thì trên phương diện pháp lý và thế đứng của Hoa Kỳ trên thế giới sẽ mất ngay hình ảnh của một nước lãnh đạo thế giới.

Cho nên đặt vào cương vị đàn anh không làm được, cương vị nhân bản cũng không làm được. Trung Quốc dù sao cũng là một nước cộng sản nên họ có thể làm được những chuyện đó.

VOA: Xin trở lại với vụ này. Chúng ta đang ở giai đoạn nào của vụ này?

LS Đỗ Phủ: Ba bị can này đã nhận tội. Thủ tục nó như thế này. Một khi mình bị chính phủ liên bang nắm, nếu mình xem qua lời complaint, buộc tội của chính phủ, thường thường 90% là mình thua; vì phía liên bang họ có tiền, có FBI, có các nhân viên điều tra khác.

Người luật sư biện hộ cho các vụ này thường thường họ thương lượng với chính phủ để giảm tội, vì nếu mình ra tòa mình cãi thì họ lại tăng thêm điểm của mình. Tức là anh nhận được complaint, anh ra anh cãi, họ lại tăng thêm điểm, anh ra anh nói xạo, họ lại tăng thêm điểm. Những điểm đó cộng lại khiến cho bản án mình trở thành nặng hơn. Còn nếu mình plea, thương lượng sớm với chính phủ, nếu mình nhận tội sớm thì yếu tồ giảm khinh mình sẽ có nhiều hơn.

Cho nên trong trường hợp này các luật sư của các bị can đã dùng giải pháp thương lượng với phía công tố viện để giảm án.

VOA: Luật sư vừa nói đến thương lượng, vậy nếu luật sư được các bị can này nhờ biện hộ thì luật sư sẽ thương lượng như thế nào để bớt tội cho họ?

LS Đỗ Phủ: Thứ nhất là mình coi số tiền là bao nhiêu. Thường thường khi liên bang đưa ra tòa thì có những hướng dẫn về hình phạt của liên bang, federal sentencing guidelines. Các hướng dẫn này dựa vào một số tiền để đưa ra bản án, và sẽ trình cho quan tòa và quan tòa sẽ dựa vào số tiền này để tham chiếu và tuyên án là bao nhiêu.

Luật sư đại diện sẽ tìm cách giảm số tiền xuống, giảm được số tiền thì điểm xuống thấp, khi điểm xuống thấp thì bản án sẽ nhẹ hơn, thời gian ở tù sẽ thấp hơn.

VOA: Tại sao có những mức án khác nhau trong vụ này, người thì 30 năm người thì 35 năm?

LS Đỗ Phủ: Ông Nam và ông An bị kết vào 5 tội trong khi cô Kim Anh chỉ có 4 tội thôi. Tất cả 5 tội của ông An và ông Nam đều giống nhau. Bởi vậy thời gian tù của cô Kim Anh sẽ ít hơn hai ông kia.

VOA: Chúng ta biết những công ty ở Việt Nam có liên quan đến vụ này là Sân bay Vũng Tàu (VTA), Trung tâm Quản lý Bay miền Nam (SFMC), Liên doanh Dầu khí Việt Xô (VSP), Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGC), và Công ty Du lịch – Thương mại T&T. Tất cả đều do nhà nước đỡ đầu. Chúng ta cũng biết tên nhiều công ty của Mỹ cũng liên quan đến vụ này. Liệu các công ty Mỹ có phải ra tòa giống như công ty Nexus?

LS Đỗ Phủ: Tôi đoán công ty Nexus chỉ là công ty đứng ra làm trung gian. Các công ty giao hàng cho họ sẽ nói chúng tôi tuyệt đối không biết gì về chuyện hối lộ này, chúng tôi chỉ giao cho công ty trung gian này bán cho phía (...) thôi. Cho nên rất khó truy tố những công ty Hoa Kỳ nào đưa hàng cho Nexus, ngoại trừ khi nào các công ty Mỹ khi đưa hàng cho Nexus biết chắc Nexus sẽ dùng cách hối lộ để có được hợp đồng.

VOA: Bài học pháp lý nào cho Việt Kiều về buôn bán, đầu tư tại (...)?

LS Đỗ Phủ: Tôi xin tóm tắt hai hệ thống luật của Mỹ và (...). Bên Mỹ là Rừng Luật, còn (...)là Luật Rừng, cho nên bên (...) làm bất cứ chuyện gì, kể ra ra tòa, cũng phải có hối lộ mới thành công. Cho nên những Việt Kiều nào về (...) làm ăn, nhất là đại diện công ty Hoa Kỳ như ông Nam ông An thì tôi nghĩ mình nên suy nghĩ hai lần trước khi hối lộ cho họ để có hợp đồng. Nếu không trả hối lộ thì cũng khó làm ăn.

Đó là những sự suy nghĩ của những người về (...) làm ăn vì (...) là nước chậm phát triển. Nên suy nghĩ thật kỹ, hai lần hoặc ba lần trước khi về (...) làm ăn.

source

VOA Vietnamese