Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Tăng trưởng tín dụng ngân hàng 2012: Ai ở nhóm nào?



MINH ĐỨC

05/01/2012 10:03 (GMT+7)

picture Định vị các ngân hàng trên cơ sở dữ liệu năm 2010 về tổng tài sản, ROA, ROE, NPL - Nguồn: Baoviet Bank.
E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: facebook twitter google rss
Đến thời điểm này thông tin bước đầu mới chỉ dừng lại ở định hướng: năm 2012, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ được phân bổ theo 4 nhóm. Kết quả phân nhóm cụ thể vẫn còn ở phía trước. Năm 2012 đã bắt đầu. Thông thường trước đây, bước vào một năm mới các ngân hàng thương mại về cơ bản đã trù tính các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh ngay từ cuối năm cũ. Năm nay có thể không có nhiều thay đổi, nhưng một chỉ tiêu quan trọng bậc nhất là giới hạn tăng trưởng tín dụng vẫn còn treo lơ lửng! Một phép cộng tương đối? Thực ra, với những thông tin bước đầu Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra, mỗi nhà băng hẳn cũng đã tự lượng sức mình, áng chừng một chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng nào đó. Nhưng ở bình diện chung vẫn là sự chờ đợi sốt ruột. Theo thông tin định hướng của Ngân hàng Nhà nước, năm 2012 chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sẽ ở khoảng 15 - 17%. Chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể sẽ được giao theo các nhóm trên cơ sở xếp loại các tổ chức tín dụng của cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước, theo nguyên tắc tổ chức nào hoạt động tốt thì được mức tăng trưởng tín dụng cao hơn, và ngược lại. Cụ thể hơn, sẽ có 4 nhóm tổ chức tín dụng được phân loại, gồm nhóm hoạt động lành mạnh (loại A), nhóm hoạt động trung bình (loại B), nhóm hoạt động dưới trung bình (loại C), và nhóm hoạt động yếu kém. Hiện chưa rõ ứng với mỗi nhóm như vậy sẽ được giao chỉ tiêu là bao nhiêu; cũng không loại trừ khả năng chỉ tiêu của mỗi thành viên trong nhóm sẽ khác nhau; mức độ chênh lệch chỉ tiêu giữa các nhóm sẽ như thế nào… Nhưng có thể hình dung đó là một phép cộng làm sao để tổng 4 nhóm đó có kết quả chung là 15 - 17% cho cả năm 2012. Chỉ tiêu của nhóm A, tốt nhất và cao nhất, có thể cũng sẽ không quá xa so với giới hạn định hướng chung 15 - 17% đó, bởi nhiều khả năng nhóm này sẽ tập hợp những ngân hàng lớn, thị phần chi phối và một sự vượt trội có thể làm “chệch” tổng số chung. Hiện cũng chưa rõ các tiêu chí phân loại cụ thể như thế nào, mà mới chỉ gợi mở ở những khái niệm chung là “lành mạnh”, “trung bình”, “yếu kém”… Song chắc chắn sẽ vẫn phải tôn trọng các chỉ số tài chính cơ bản, cũng là một yêu cầu khách quan để hạn chế sự hoài nghi có cơ chế xin - cho trong dư luận về vấn đề này. Thử “đoán” kết quả… Đến thời điểm này các chỉ số tài chính cơ bản của hầu hết các ngân hàng kết thúc năm 2011 vẫn chưa được tổng hợp và công bố rộng rãi. Đây là cơ sở dữ liệu cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét phân loại; việc tập hợp cần có thời gian và kết quả cụ thể vẫn còn phải chờ đợi. Với mỗi tổ chức tín dụng, lúc này hẳn họ đã tự đình hình cho mình ở nhóm nào. Còn trên bình diện chung, có thể tham khảo một cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ và gần đây để thử “đoán” kết quả. Nếu theo thông tin ban đầu còn khá mơ hồ từ Ngân hàng Nhà nước, nhóm A là “lành mạnh”, thì có thể xét theo tiêu chí nợ xấu hay không? Nếu vậy, dữ liệu cuối năm 2010 cho thấy những ứng viên nổi bật cho nhóm A là ACB, Sacombank, VietinBank… khi nợ xấu chỉ ở trong khoảng 0,4% - 0,7%; trong khi phần lớn các nhà băng khác ở nhóm B với khoảng từ 1,2% - 2%; các nhóm còn lại cũng tương đối với khoảng trên dưới 2,5%, cá biệt một số trường hợp trên bình quân ngành là 3%, hay trên 10% (chưa có sự kiện ngân hàng hợp nhất)… Ở tiêu chí đó cũng khá khó đoán, bởi năm 2011 nợ xấu của hệ thống ngân hàng có sự gia tăng mạnh, có khác biệt lớn giữa các thành viên và đặc biệt là còn có sự “lệch pha” trong các tiêu chuẩn phân loại. Trong khi đó, cũng theo dữ liệu cuối năm 2010, có thể định hình các nhóm khá rõ ràng trên cơ sở phân tích tổng hợp các tiêu chí cơ bản là tổng tài sản, tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và cả nợ phân loại. Theo những tiêu chí đó và dữ liệu cập nhật cuối năm 2010, tháng 5/2011 vừa qua nhóm phân tích của Ngân hàng Bảo Việt (Baoviet Bank) đã có một báo cáo với sự phân loại đáng chú ý, có thể tham khảo trong vấn đề này.
Kết quả phân loại qua tổng hợp các tiêu chí trên cho thấy nhóm có triển vọng gồm những ngân hàng như BIDV, VietinBank, Vietcombank, ACB, Eximbank, Techcombank, Sacombank, MB, VIB, Maritime Bank, DongA Bank, Habubank, Ocean Bank; kế đến là Agribank, SeABank, ABBank, OCB, NVB, Kienlong Bank, SCB, BacA Bank…
Đó là một sự phân nhóm tương đối, có sự giao thoa giữa các nhóm và nhất là có thể có nhiều xáo trộn khi cập nhật kết quả hoạt động của năm 2011. Nhưng ở thời điểm này, đây là một tham khảo đáng kể. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm khác nhau trong việc phân nhóm các tổ chức tín dụng để giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay. Có thể “đơn giản” là cần xem xét kỹ các trường hợp có “tiền sử” cho vay quá nhiều ở các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán; có thể ưu tiên cho những thành viên có tỷ trọng tín dụng cao ở lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp - nông thôn… Hay một quan điểm được chú ý thời gian qua là đề cao tiêu chí hệ số an toàn vốn (CAR), xem đó như một thước đo quan trọng cho tình hình sức khỏe của các nhà băng. Nếu vậy, giả sử tham khảo cho lúc này vẫn là dữ liệu năm 2010, thì kết quả phân nhóm sẽ có những điểm thú vị, bởi những “ông lớn” như Agribank, Vietcombank, BIDV… không có ưu thế cạnh tranh vì chỉ suýt soát mức tối thiểu 9% theo quy định hiện hành; trong khi đó nổi bật sẽ là Eximbank với 17,79%, hay như VPBank 14,29%, SHB 13,8%, SeABank 12,61%... Cuối cùng thì vẫn phải đợi kết quả phân nhóm và các chỉ tiêu chính thức từ Ngân hàng Nhà nước. Lúc này chỉ có thể khẳng định là dù có phân loại thế nào thì cũng gần như không thể trở lại thời kỳ “no dồn” tăng trưởng tín dụng những năm 2010 trở về trước; và việc phân loại được kỳ vọng sẽ phát huy các nguồn lực đúng chỗ và đúng địa chỉ hơn. Nhân tiện, một kết quả khác mà thị trường cũng đang chờ đợi là việc rút tỷ trọng tín dụng phi sản xuất xuống 16% vào thời điểm 31/12/2011 đã kết thúc như thế nào?
source
http://vneconomy.vn/20120105014648621P0C6/tang-truong-tin-dung-ngan-hang-2012-ai-o-nhom-nao.htm

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Việt Nam cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại bị nợ xấu đe dọa



VIỆT NAM - NGÂN HÀNG -
Bài đăng : Thứ năm 22 Tháng Mười Hai 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 22 Tháng Mười Hai 2011

Việt Nam cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại bị nợ xấu đe dọa

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Hà Nội
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Hà Nội
REUTERS

Trọng Nghĩa

Ngày 06/12/2011 vừa qua, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức loan báo việc hợp nhất ba ngân hàng nhỏ tại Sài Gòn thành một định chế tài chánh lớn hơn. Đây là một trong những biện pháp cải tổ đang được chính quyền Việt Nam tiến hành với hy vọng cứu vãn được hệ thống ngân hàng trước nguy cơ bị các món nợ xấu to lớn đánh sụp.

Về bề nổi thì khu vực ngân hàng tại Việt Nam rất phát triển, với cả trăm ngân hàng đua nhau hoạt động, từ các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng gọi là tư nhân, cho đến các chi nhánh ngân hàng ngoại quốc. Thế nhưng, đa số các định chế tài chánh này lại rất yếu, vốn liếng rất hạn chế và một số đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản đáng kể.

Theo hãng tin Pháp AFP, ông Lê Thẩm Dương, trưởng khoa Quản trị Kinh doanh trường đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã cho đấy mà một điểm yếu kém cực kỳ nguy hiểm. Đối với ông : "Có quá nhiều ngân hàng nhỏ," và "những khó khăn thì rất lớn".

Trong số các khó khăn đặt ra cho ngành ngân hàng Việt Nam, nghiêm trọng nhất có lẽ là khối lượng khổng lồ của các khoản nợ khó đòi, đã phình lên với đà gia tăng nhanh chóng của tín dụng trong một chục năm gần đây.

Theo AFP, từ năm 2000 đến nay, trị giá các món nợ mà hệ thống ngân hàng Việt Nam nắm giữ đã được nhân lên 14 lần, đạt tỷ lệ 244% GDP vào tháng 9/2011 vừa qua. Với các thủ tục cho vay thiếu chặt chẽ, bên cạnh nhiều nhân tố khác, cũng dễ hiểu là các khoản nợ xấu đã bành trướng theo đà tăng của khối tín dụng.

Số liệu chính thức của Nhà nước hiện nay cho thấy các khoản nợ xấu "chỉ" chiếm 3,2% trên tổng số nợ. Theo ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ này "có thể lên đến mức 5%" trong vài tuần lễ tới đây.

Theo giới quan sát, khối lượng nợ xấu còn có thể cao hơn rất nhiều trong thực tế. Theo hãng phân tích kinh tế Capital Economics, các món nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể "cao hơn 15%, tạo ra vấn đề lớn đối với ngành ngân hàng ".

Dưới áp lực của các cơ quan thẩm định tài chánh quốc tế, cũng như các nhà tài trợ - đã hứa cấp cho Việt Nam 7 tỉ đô la tín dụng trong năm 2012 - chính phủ đã bị buộc phải xúc tiến kế hoạch tái cơ cấu ngành tài chánh.

Việc sát nhập các ngân hàng nhỏ yếu thành các định chế lớn mạnh hơn nằm trong khuôn khổ đó. Theo ông Cao Sỹ Kiêm, Việt Nam sẽ "cố gắng giảm một nửa số lượng ngân hàng vào năm 2015 ".

Tuy nhiên, giới quan sát vẫn thận trọng. Ông Tony Foster, thuộc văn phòng luật Freshfields Bruckhaus Deringer nhận định : “Làm sao mà việc sát nhập ba ngân hàng nhỏ có thể làm cho nợ xấu mất đi như nhờ một phép mầu "
source
RFI Vietnamese

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

Khủng hoảng tín dụng ngoài luồng ở Trung Quốc


Thứ Hai, 14 tháng 11 2011


Hình: AP

Tương tự như trường hợp của (...), Trung Quốc cũng đang trải qua một cơn bão ngầm về đổ vỡ tín dụng “ngoài luồng”. Tâm điểm của cơn bão này là Wenzhou (Ôn Châu). Trường hợp Wenzhou đã trở nên nổi tiếng khắp nơi trên thế giới, đến nỗi nó thường xuyên xuất hiện trên các báo chí quốc tế, đặc biệt là trong tháng 10 vừa qua.

Vậy câu chuyện ở Wenzhou xảy ra như thế nào?

Wenzhou nổi tiếng với tư cách là “thủ đô” của kinh tế tư nhân. Từ những ngày đầu tiên của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc, Wenzhou luôn dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế tư nhân. Trong giai đoạn những năm 2000, sản xuất công nghiệp tư nhân chiếm tới 96% tổng sản xuất công nghiệp ở địa phương, sử dụng 80% số lao động, chiếm 95% sản lượng xuất khẩu của địa phương. Wenzhou là thủ phủ của hàng loạt các sản phẩm và mang nhiều mệnh danh như “thủ đô dày dép Trung Quốc”, “thủ đô đồ điện gia dụng”… Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Wenzhou đã tạo ra cái gọi là “mô hình kinh tế Wenzhou” và trở thành nguồn cảm hứng cho công cuộc hiện đại hóa ở Trung Quốc.

Hiện nay, với sự đi lên mạnh mẽ của các khu vực khác, vai trò của Wenzhou đã bị thu hẹp nhiều. Thành phố với 9 triệu dân này hiện nay chỉ chiếm chưa tới 1% GDP của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, Wenzhou vẫn giữ được vị thế là thủ đô của doanh nghiệp vừa và nhỏ với gần 400,000 doanh nghiệp và chủ yếu sản xuất các sản phẩm xuất khẩu.

Trong khoảng một năm trở lại đây, tình hình lạm phát ở Trung Quốc đã buộc chính quyền trung ương phải sử dụng tới các biện pháp thắt chặt tiền tệ (tăng lãi suất, ép giảm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng). Cũng như ở (...), chính sách này đã đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ tới chỗ hầu như không thể vay được tiền từ hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng chính thức. Điều này đã khiến các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ không còn lựa chọn nào khác là vay mượn từ hệ thống tín dụng đen. Theo MarketWatch (phụ trang của Wall Street Journal), số tổ chức cho vay phi pháp ở đây đã lên tới hơn 1000. Rất nhiều doanh nghiệp phải đến vay các tổ chức này với mức lãi suất cắt cổ, mặc dù tỷ suất lợi nhuận biên của họ gần như không đáng kể (đa phần dưới 5%).

Tệ hơn, theo Bao Fan, CEO của ngân hàng China Renaissance, một số lớn doanh nghiệp đi vay chợ đen ít nhiều có dính líu tới bất động sản. Theo ông Fan, các khoản đầu cơ này bị ảnh hưởng nặng khi chính quyền trung ương quyết tâm siết chặt các họat động mua bán bất động sản nhằm hạ nhiệt thị trường này.

Cũng giống như trường hợp (...), hệ thống tín dụng đen này không được kiểm soát bởi chính quyền. Vì vậy, lãi suất cho vay luôn trong tình trạng đặc biệt cao. Theo Chinapost, việc thắt chặt tiền tệ đã đẩy lãi suất trong khu vực này lên tới 90%. Tình trạng này khiến phần lớn mọi người tin rằng việc sụp đổ tín dụng đen ở đây là điều không tránh khỏi. XinhuaNet trích dẫn một điều tra thống kê cho thấy 65% chủ các doanh nghiệp với doanh số ít nhất 30 triệu Yuan (khoảng 4.72 triệu USD) tin rằng sự sụp đổ của hệ thống tín dụng đen ở Wenzhou là tất yếu.

Chinapost trích nguồn từ UBS cho biết quy mô của tín dụng đen ở Trung Quốc lên tới khoảng 3 ngàn tỷ Yuan (tương đương 628 tỷ USD), bằng khoảng 10% GDP của Trung Quốc. Khủng hoảng tín dụng đen ở Wenzhou không có tác động ngay lập tức đến hệ thống tài chính khổng lồ của Trung Quốc, nhưng nhiều người lo ngại rằng một khi nó lan ra toàn quốc, và hệ thống tín dụng ngầm lên tới 10% GDP này sụp đổ thì hậu quả của nó là không tiền khoáng hậu. Andy Xie – một kinh tế gia “lắm điều” về Trung Quốc – phát biểu trên báo này rằng “tôi buộc phải kết luận rằng việc làm ăn này là một trò chơi Ponzi, dựa vào nguồn tiền vay mới để trả nguồn vay cũ. Nếu tình trạng này không được kiểm soát thì nó sẽ dẫn tới một thảm họa ở quy mô toàn quốc”.

Trên thực tế là có nhiều doanh nghiệp sản xuất đã phá sản và nhiều nhà tài phiệt đã phải bỏ thành phố trốn đi, thậm chí ra nước ngoài, để tìm cách thoát khỏi sự truy đuổi của chủ nợ. Theo ChinaDaily, 29 chủ doanh nghiệp lớn đã bỏ chạy.

Nổi đình đám nhất là ông Hu Fulin, người sáng lập ra tập đoàn Zhejiang Center, và là một trong những nhân vật được coi là tạo ra các điều thần kỳ trong kinh doanh. Công ty của ông Hu có tới 3000 nhân công, sản xuất ra khoảng 20 triệu bộ kính mắt mỗi năm. Vì dính líu tới các khoản đầu tư bất động sản, ông Hu đang mắc vào khoản nợ không còn khả năng thanh toán lên tới 313 triệu USD (trong đó hơn một nửa là nợ tín dụng đen) và hiện ông đã trốn sang Mỹ. Một chủ doanh nghiệp khác là ông Zheng Deli, đứng đầu một công ty làm giày da, đã tìm lối thoát bằng cách khác. Ông đã nhảy từ căn hộ trên tầng 22 của ông xuống đất tự sát.

Cách kiểm soát khủng hoảng của chính quyền

Chính quyền trung ương và địa phương đã ban hành nhiều chính sách nhắm vào giải quyết khủng hoảng. Hãng tin CNTV trích lời Chen Jun, phó bí thư thị ủy của Wenzhou, cho biết lượng vốn bơm vào Wenzhou qua kênh chính thức (hệ thống ngân hàng) đã tăng thêm 5.45 tỷ yuan vào tháng 10, đưa tổng số vốn vay từ hệ thống ngân hàng lên tới 604.3 tỷ yuan.

Một quỹ tài chính khẩn cấp trị giá một tỷ yuan cũng được nhà nước thành lập để cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang trong tình trạng cần “cấp cứu” vay. Nhà nước cũng xúc tiến thành lập từ 10 tới 15 công ty có chức năng cho vay các ngân khoản nhỏ vào cuối năm nay để giảm áp lực về nhu cầu vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo CNTV, ngay cả các hiệp hội nghề nghiệp và xã hội cũng hình thành các quỹ tài chính để cho các thành viên của mình vay nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn kinh tế.

Các giải pháp tái cấu trúc nhóm các doanh nghiệp phá sản cũng được thực hiện. Theo CNTV, 5 doanh nghiệp thuộc diện đã phá sản đã được khôi phục hoạt động trở lại nhờ khoản cho vay 50 triệu yuan của chính phủ và 15 chủ doanh nghiệp bỏ chạy khỏi thành phố giờ đã quay lại làm việc.

Với các giải pháp này, CNTV cho rằng khủng hoảng tín dụng ở Wenzhou đang hạ nhiệt. Tuy nhiên con số 5 - 6 tỷ yuan trên thực tế có lẽ chỉ như muối bỏ biển vì, theo MarketWatch, một báo cáo ra hồi tháng 9 cho biết chính quyền địa phương đã gửi kiến nghị đề nghị trung ương hỗ trợ một gói cứu trợ tài chính lên tới 60 tỷ yuan. Theo một nguồn khác, China.org.cn trích số liệu của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa chi nhánh Wenzhou cho biết khu vực tín dụng đen ở thành phố này có quy mô lên tới 110 tỷ yuan (tương đương khoảng 16 tỷ USD).

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

source

VOA Vietnamese

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Đến lượt kinh tế Trung Quốc suy thoái ?


Đến lượt kinh tế Trung Quốc suy thoái ?

Ngân hàng TQ và đe dọa nợ khó đòi
Ngân hàng TQ và đe dọa nợ khó đòi
Reuters
Nguyễn Xuân Nghĩa / Thanh Hà

Bắc Kinh liên tục hối thúc khu vực đồng euro giải quyết khủng hoảng nợ công nhưng nhà nước và các chính quyền địa phương Trung Quốc đang mang nợ chồng chất, tương đương với gần 70 % GDP. Ngành ngân hàng Trung Quốc bị đe dọa khủng hoảng vì nợ khó đòi. Kinh tế toàn cầu sẽ đi về đâu khi tăng trưởng của Trung Quốc bắt đầu chựng lại và đến lượt Bắc Kinh bị vỡ bong bóng đầu cơ địa ốc ?

Tuần trước tham dự hội nghị quốc tế về tài chính tại Luân Đôn chủ tịch quỹ đầu tư Trung Quốc đã mạnh dạn tuyên bố : "Bắc Kinh không thể mua lại nợ có mức độ rủi ro cao của bất kỳ một quốc gia thành viên nào trong khối euro nếu như lãnh đạo châu Âu không thông báo rõ ràng về đường lối giải quyết khủng hoảng". Cùng lúc nhiều qua quan nghiên cứu tài chính quốc tế nêu lên lo ngại tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc bắt đầu hụt hơi. Thêm vào đó, bản thân Trung Quốc cũng đang vướng phải « hội chứng Hy Lạp »

Cơn sốt địa ốc Trung Quốc
Reuters

Lo ngại nợ công chồng chất

Theo thẩm định của ngân hàng Anh, Standard Chartered nợ công của Trung Quốc hiện lên tới 28 000 tỷ nhân dân tệ, tức khoảng 3 200 tỷ euro và tương đương 68 % tổng sản phẩm nội địa. Đáng lo ngại hơn cả là ngành ngân hàng Trung Quốc đang nắm trong tay đến 9 000 tỷ nhân dân tệ nợ khó đòi. Khoản tiền tương đương với 22 % GDP của Trung Quốc .

Tại Trung Quốc ¾ các khoản chi tiêu công cộng là do các chính quyền địa phương tài trợ và chủ yếu giới lãnh đạo dồn tiền vào khu vực địa ốc. Đối với tư nhân, mua nhà luôn là giải pháp tối ưu để đề phòng lạm phát. Nhưng điều gì sẽ xảy tới đối với các công ty nhà nước, với giới ngân hàng khi giá nhà đất chựng lại như trong sáu tháng gần đây -kể cả tại một số thành phố lớn của Trung Quốc- và đe dọa tiềm tàng «vỡ bong bóng địa ốc» ngày thêm rõ nét ?

Theo thống kê chính thức, hiện tại nợ công tại các cấp vùng lên tới 1 250 tỷ euro, tương đương với 20 % của cải làm ra và 80 % khoản nợ khổng lồ này do các ngân hàng Trung Quốc nắm giữ. Vấn đề càng thêm nghiêm trọng khi biết rằng, khối nợ công hơn 1200 tỷ euro vừa nêu, trên trên thực tế có thể cao hơn gấp đôi so với thống kê chính thức.

Theo nhận xét của giáo sư đại học Northwestern, Chicago, chuyên gia về kinh tế Trung Quốc, ông Victor Shil do các công ty nhà nước được các ngân hàng quá ưu đãi nên rủi ro nợ khó đòi của giới ngân hàng lại càng cao.

Một tiếng nói uy tín khác từ viện nghiên cứu kinh tế độc lập Unirule tại Bắc Kinh cũng cho rằng : Trung Quốc đang lâm vào "hội chứng Hy Lạp". Tình trạng nợ nần tại quốc gia châu Á này còn nguy ngập hơn cả so với ở Hoa Kỳ và châu Âu bởi lẽ các tỉnh thành Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh nghèo và kém phát triển đã dễ dàng được cấp tín dụng để mở mang kinh tế. Vốn được dồn cho các công ty doanh nghiệp nhà nước nhưng các đơn vị đó lại làm ăn kém hiệu quả.

Cuối năm ngoái, chính quyền trung ương vì lo ngại nợ công ở cấp địa phương vượt khỏi tầm kiểm soát đã cho tiến hành một cuộc kiểm toán và theo đó thì nhiều tỉnh thành đang bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Trong số đó phải kể đến đảo Hải Nam, thiên đường du lịch của các nhà tỷ phú đỏ Trung Quốc.

Tác dụng phụ của các biện pháp chống lạm phát

Bên cạnh hồ sơ nóng bỏng là nợ công, Trung Quốc còn đang phải đau đầu giải quyết lạm phát trong viễn cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại. Theo dự phóng của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tăng trưởng trong năm nay và sang năm sẽ chỉ ở vào khoảng 9 % do tác động dây chuyền từ các khó khăn của Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Lạm phát thì vẫn cao hơn từ 2 đến 3 điểm so với mục tiêu được Bắc Kinh đề ra.

Từ mùa thu 2010 Trung Quốc liên tục siết lại chính sách tiền tệ, giới hạn mức cấp tín dụng để «hạ nhiệt giá cả» trên thị trường, kể cả trong lĩnh vực địa ốc. Trong 9 tháng đầu năm 2011, ngân hàng trung ương đã ba lần tăng lãi suất chỉ đạo. Với nguồn tín dụng « hạn hẹp » hơn, các doanh nghiệp tư nhân khó đi vay tiền hoặc phải trả lãi với giá có khi lên tới 70 %.

Nhiều cơ sở sản xuất nhỏ phải đóng cửa. Theo báo chí chính thức Trung Quốc tại Ôn Châu, từ đầu năm tới nay đã có 80 ông chủ phải chạy trốn vì không còn tiền trả cho nhân viên và cũng không thể trả nợ ngân hàng. Còn theo hiệp hội các doanh nghiệp tư nhân tại chỗ thì đã có khoảng 1/3 các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ phải tuyên bố phá sản.

Đành rằng còn quá sớm để cho rằng đến lượt kinh tế Trung Quốc bị « khủng hoảng » nhưng đối với một đất nước mà phải nuôi sống gần 1,5 tỷ nhân khẩu thì chỉ cần cỗ máy kinh tế chạy chậm lại là cũng đủ để các lãnh đạo ở Bắc Kinh đau đầu. Đe dọa khủng hoảng nợ công và của ngành ngân hàng càng gia tăng áp lực lên một chính quyền sắp chuyển giao quyền lực cho một thế hệ mới.

Đâu là những nguyên nhân khiến kinh tế Trung Quốc bắt đầu tỏ dấu hiệu mệt mỏi và đâu là hậu quả đối với bản thân nước này cũng như đối với phần còn lại của thế giới. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lần lượt trả lời các câu hỏi trên.

Đau đầu vì lạm phát
Reuters

Dấu dấu hiệu đình trệ

Từ nhiều năm nay rồi, các trung tâm nghiên cứu kinh tế rồi đến các tập đoàn đầu tư quốc tế đã bắt đầu e ngại một kịch bản suy trầm tại Trung Quốc. Tình hình đã trở thành rõ rệt hơn từ hai tuần qua, khiến cho những nơi dự báo lạc quan nhất đều đồng ý là kinh tế Trung Quốc sẽ hạ cánh và lạc quan nên bảo rằng hạ cánh nhẹ nhàng. Bi quan hơn thì đoán là hạ cánh nặng nề nghĩa là suy thoái, hoặc tan tành, tức là khủng hoảng.

Thật ra, người ta có nhiều chỉ dấu của sự đình trệ. Có giá trị "tiên báo", thì có thị trường cổ phiếu Thượng Hải lẫn các cổ phiếu loại Đỏ của Hoa lục trên thị trường Hang Seng tại Hong Kong. Cũng thuộc loại tiên báo thì có chỉ số mua hàng công nghiệp gọi tắt là PMI là đơn đặt hàng sẽ sản xuất và trao đổi sau này. Chỉ số ấy của Trung Quốc đã mấp mé mức báo động là dưới 50. Hoặc sự suy sụp của thị trường thương phẩm, bên trong có kim loại tiêu biểu là đồng, mất giá 26%, là sản phẩm được Trung Quốc đầu cơ rất mạnh nên thổi lên bong bóng. Thông thường thì từ sáu đến chín tháng sau các chỉ dấu ấy, kinh tế có thể bị suy giảm.

Mặt khác, người ta cũng có loại chỉ dấu gọi là "hậu kiểm", là thống kê kinh tế của giai đoạn đã qua : sự co cụm của xuất khẩu, là đầu máy kinh tế số một của Trung Quốc, một nước lệ thuộc nhiều nhất vào xuất cảng, trong khi hai thị trường nhập cảng mạnh nhất là Mỹ và châu Âu đều điêu đứng. Mà năm tới, hai khối này còn chật vật hơn nên sẽ gieo họa cho Trung Quốc.

Vì dân số quá đông, lãnh đạo Bắc Kinh đề ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế quãng 8% thì mới tạo đủ việc làm cho thành phần dân chúng đến tuổi lao động, dưới mức đó là có loạn. Theo dự báo mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, thì vì hiệu ứng kinh tế Âu-Mỹ, đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong năm tới chỉ còn khoảng 4-5%. Nếu có bơm thêm tiền kích thích thì cũng khó vượt qua 6,5%. Rủi ro bất ổn xã hội vẫn có.

Tăng trưởng giả tạo của Trung Quốc

Trong đợt tổng suy trầm toàn cầu năm 2008 khi sản lượng kinh tế Trung Quốc chỉ còn là 6,8% vào quý bốn năm 2008 rồi 6,1% vào quý một năm 2009. Hãy tạm chấp nhận con số biểu kiến ấy dù thực tế lại còn bi đát hơn vậy. Khi thấy đà sản xuất suy sụp, lãnh đạo xứ này đã đối phó bằng ba loạt biện pháp. Thứ nhất là yểm trợ xuất khẩu còn mạnh hơn trước; thứ hai là trợ cấp hoặc hăm dọa các doanh nghiệp là không được thải người dù cho sản xuất hết có lời hoặc bị lỗ và đáng bị phá sản; thứ ba, quan trọng nhất là ào ạt tăng chi cho các dự án địa phương và bơm tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp.

Ban hành vào cuối năm 2008, lượng tiền khổng lồ này đã lên tới 1.300 tỷ đô la tín dụng và 586 tỷ tăng chi, so với sản lượng kinh tế chỉ có khoảng 5.000 ngàn tỷ. Nhờ vậy mà trong khi cả thế giới "kêu la" vì khủng hoảng, kinh tế Trung Quốc tự hồi phục mạnh nhất với đà tăng trưởng hơn 10% vào năm ngoái. Nhưng đó là thành tích của kẻ uống thuốc bổ và tiếp nước biển để chạy băng đồng. Chẳng thể chạy mãi như vậy.

Trung Quốc luôn chủ trương phát triển kiểu Đông Á nghĩa là lấy xuất cảng làm đầu máy mà không nâng mức tiêu thụ nội địa để tìm lực đẩy của mình. Chiến lược ấy đã phá sản từ vũ khủng hoảng Đông Á năm 1997-1998. Mà lại là chiến lược Đông Á với màu sắc Trung Quốc, là trung ương không điều động được địa phương, và các tỉnh duyên hải tiếp tục theo đuổi chiến lược hướng ngoại, tức là tiếp tục xuất cảng bằng mọi giá. Hậu quả là cả triệu doanh nghiệp thắt lưng buộc bụng để sản xuất cho rẻ, bán dưới giá thành, hầu vẫn có công là tạo ra việc làm và tránh động loạn. Cũng màu sắc Trung Quốc đó đã dẫn tới hai mối nguy có thể bùng nổ khi kinh tế suy trầm, là nạn lạm phát và bong bóng đầu cơ. Muốn giải trừ nguy cơ suy trầm thì càng dễ gây lạm phát; muốn ngăn ngừa lạm phát nay đã quá 6% thì có thể làm bóng bể!

Hậu quả khi kinh tế Trung Quốc bị chựng lại

Xứ nào cũng có thể bị nạn suy trầm hoặc thậm chí suy thoái kinh tế. Khi chuyện ấy xảy ra, tại các nước có dân chủ thì chính quyền thất cử, như ta đã thấy tại Nhật từ năm 1993 đến nay. Tại Hoa Kỳ hay Âu Châu mình cũng thấy có tranh luận chính trị, thậm chí biểu tình chống hàng ngoại quốc, chống di dân, đòi gia tăng trợ cấp thất nghiệp, v.v...

Tại Trung Quốc thì đặc tính chính trị của hệ thống này khiến suy thoái kinh tế lan rộng thành động loạn xã hội và dội ngược lên thành khủng hoảng chính trị. Vì khủng hoảng chính trị cũng có nghĩa là khủng hoảng của chế độ và đảng cầm quyền, lãnh đạo sẽ càng khó ứng phó.

Cụ thể thì vì yêu cầu kích thích kinh tế của mấy năm qua hàng loạt doanh nghiệp rồi ngân hàng có thể phá sản khiến thất nghiệp sẽ gây loạn. Song song, nhiều chính quyền địa phương bị vỡ nợ vì lập ra công ty đầu tư địa phương để vay tiền ngân hàng kích thích kinh tế. Ly kỳ nhất là chính quyền hiện không biết rằng các khoản nợ ấy là bao nhiêu và bị ung thối đến cỡ nào. Năm tới lại có Đại hội đảng để chuyển giao quyền lực từ thế hệ thứ tư qua thế hệ thứ năm, suy trầm hay suy thoái kinh tế sẽ dẫn đến nhiều chọn lựa nhân sự rất cực đoan bảo thủ sau này.

Nhiều nước sẽ khó bán hàng cho Trung Quốc hơn, nhất là các nước Đông Á và các nước xuất cảng thương phẩm nguyên nhiên vật liệu. Suy trầm vì vậy có thể là tổng suy trầm toàn cầu, đợt hai. Đồng thời, nhiều xứ khác, trong đó có (...) , sẽ phải ngốn hàng ế ẩm của Trung Quốc, qua cả cửa khẩu lẫn biên giới. Đó là khó khăn kinh tế , rất dễ dẫn tới chiến tranh mậu dịch như người ta đã thấy hôm 03/10/11 tại Thượng viện Hoa Kỳ.

Nhưng cũng vì suy trầm kinh tế, lãnh đạo Trung Quốc cần thị uy với bên ngoài để ve vuốt tự ái dân tộc bên trong hầu giảm bớt sự bất mãn của quần chúng. Cho nên, ngoài những khó khăn kinh tế, người ta còn nên chờ đợi thách đố về ngoại giao và an ninh xuất phát từ Trung Quốc.

source

RFI Vietnamese

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

Việt Nam có thể lùi tiến độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng


VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Hai, 13 tháng 12 2010

Việt Nam có thể lùi tiến độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng

Hình: REUTERS

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đề nghị chính phủ lùi thời hạn chót để các ngân hàng tăng vốn điều lệ lên 3 ngàn tỷ đồng, khoảng 154 triệu đôla.

Theo một nghị định của chính phủ thì các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào trước hạn chót là ngày 31/12 năm nay, tuy nhiên hãng tin Reuters trích nguồn tin của VnExpress cho hay theo một giới chức Ngân hàng Nhà nước thì Ngân hàng này đang đề xuất với Chính phủ lùi tiến độ tăng vốn điều lệ đối với các ngân hàng thương mại lên mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng do những khó khăn khách quan trong quá trình thực hiện tăng vốn tại tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên giới chức này không cho biết Ngân hàng Nhà nước đề nghị lùi thời hạn này đến khi nào.

Ngân hàng trung ương muốn các ngân hàng thương mại nâng vốn điều lệ trong khuôn khổ một chiến lược nhằm tăng cường hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình tăng vốn của các tổ chức tín dụng thời gian qua đã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khả năng huy động vốn của các ngân hàng nhỏ.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 10, vẫn còn một nửa trong số 22 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ chưa được chấp thuận kế hoạch tăng vốn.

Trong khi đối với số ngân hàng đã được chấp thuận, việc thực hiện vẫn còn là một quá trình hết sức khó khăn.

Hồi cuối tháng 11, Phòng Thương mại châu Âu (EuroCham) cũng đã khuyến nghị Việt Nam chưa nên thực hiện lộ trình tăng vốn ngân hàng.

Theo cảnh báo của EuroCham, mức độ tăng như vậy là quá lớn và không phù hợp với khung thời gian đưa ra.

Thị trường tài chính Việt Nam cũng không đủ lớn để triển khai một cách thận trọng và làm đòn bẩy cho dòng chảy vốn từ cả ngân hàng trong nước và nước ngoài.

Nguồn: Reuters, VNExpress.net

source

VOA Vietnamese

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Trung Quốc Bần Thần Tây Tiến


July 16, 2010


NGUYỄN XUÂN NGHĨA-Việt Tribune

Tiến thoái lưỡng nan vì đạp ga hay đạp thắng?

Vừa phát động màn quảng cáo huê dạng nhất – Ngân hàng Nông nghiệp (ABC) lần đầu tiên phát hành cổ phiếu cho công chúng (IPO theo thuật ngữ tài chánh) trên các thị trường Thượng Hải và Hương Cảng để quơ vào tới 22 tỷ đô la, lãnh đạo Bắc Kinh bỗng thấy bần thần. Nên kích cầu hay hạ nhiệt? Nên đạp thắng hay tống ga? Và con đường Tây tiến sẽ dẫn tới đâu?

Truyền thông mù lòa và các nhà bình luận đầy cảm tính (...) thì coi việc ngân hàng thứ tư trong bốn đại gia Hoa lục chơi trò văn minh là huy động vốn trên thị trường chứng khoán là dấu hiệu trưởng thành của Trung Quốc. Bắc Kinh đã chen chân vào hội lạc: trong 10 ngân hàng lớn nhất thế giới ngày nay có bốn ngân hàng Trung Quốc. Số một toàn cầu là Công thương Ngân hàng ICBC. Năm 2006, ICBC phất tay mà lấy được 21 tỷ đô la. Bây giờ, Ngân hàng ABC èo uột nhất trong bốn đại gia lại có thể vượt kỷ lục đó, ai mà không sợ?

Thực tế thì lãnh đạo Bắc Kinh đang ở vào một khúc quanh hiểm nghèo. Bài viết này sẽ nói về chuyện đó.

Tất cả các nền kinh tế vừa chuyển hướng theo quy luật thị trường để kỹ nghệ hoá đều đã đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong những thập niên đầu tiên. Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn hay các nước Đông Nam Á đều đã từng trải qua giai đoạn khởi phát vũ bão ấy, và tạo ra cái mà người ta gọi là “phép lạ Đông Á”. Bây giờ, đến lượt Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam…

Nhưng khác với các nước đi trước, cùng có chung một mẫu số là vừa phát triển kinh tế vừa xây dựng dân chủ, Trung Quốc lại có tham vọng “xây dựng (...)” – là duy trì chế độ (...) – nhưng với màu sắc Trung Hoa, theo kiểu tự do có chọn lọc. Một màu sắc Trung Hoa khác còn là những khác biệt quá lớn giữa các địa phương, giữa các tỉnh duyên hải ở miền Đông và một khu vực bát ngát lạc hậu ở miền Tây. Vì vậy, Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng cao, những với phẩm chất kém về môi sinh và xã hội: hủy hoại môi trường sinh sống và đào sâu bất công xã hội.

Ngân hàng Nông Nghiệp ACB tại Bắc Kinh, Trung Quốc. FREDERIC J. BROWN/AFP/Getty Images


Nguy hiểm nhất là dị biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa khu vực miền Đông với các tỉnh bị khoá trong lục địa ở miền Tây. Hiện tượng ấy ngày càng trở thành trầm trọng vì người dân nghèo khổ phải Đông tiến, trở thành “dân công”, là mò ra tỉnh và đi về vùng duyên hải kiếm việc. Họ ý thức được về sự nghèo khốn của mình khi nhìn thấy những thành tựu “ấn tượng” ở miền Đông.

Nếu kinh tế còn tăng trưởng thì họ còn có việc làm – dù chửa có hộ khẩu – để gửi tiền về nhà cho gia đình. Khi kinh tế bị suy trầm, họ mất việc và phải hồi hương, gia đình bị đói ở nhà sẽ phải nuôi thêm một miệng ăn nữa. Vụ tổng suy trầm 2008-2009 gây chấn động cho lãnh đạo Bắc Kinh vì cả trăm triệu “dân công” bị nguy cơ mất việc như vậy. Hiện tượng động loạn xã hội manh nha từ những năm 2003-2005 có thể lan rộng.

Vì thế, ngay từ tháng 11 năm 2008, Bắc Kinh ráo riết ban hành kế hoạch kích thích kinh tế: bơm 600 tỷ đô la qua tăng chi ngân sách và 1.400 tỷ qua tín dụng ngân hàng vào một nền kinh tế có sản lượng chừng 5.000 ngàn tỷ. Một ngân khoản vĩ đại, và tất nhiên là có công hiệu. Kinh tế Trung Quốc bị đình trệ rất nhẹ rồi lại đạt mức tăng trưởng rất cao, có lúc vượt quá 10%.

Nhưng một hiệu ứng bất ngờ của việc bơm tiền cứu nguy kinh tế là bơm lên trái bóng đầu cơ trong khu vực địa ốc. Còn vĩ đại hơn trái bóng gia cư của Hoa Kỳ hay các nước Âu Châu.

Bây giờ, lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu thấy bần thần.

Nhìn về dài, trong dăm ba năm tới, kinh tế Trung Quốc sẽ không thể đạt tốc độ tăng trưởng rồng cọp như xưa – hiện tượng bình thường sau giai đoạn cất cách ngoạn mục. Chưa kể đến một yếu tố cũng bình thường khác là đà gia tăng dân số đang giảm dần vì chánh sách mỗi hộ một con. Trong trường kỳ, chuyện tăng trưởng 9-10% sẽ là kỷ niệm.

Ngay trước mắt, đà tăng trưởng còn đang bị nguy cơ co cụm vì một đầu máy cố hữu là xuất cảng không thể chạy như xưa: các thị trường nhập cảng lớn nhất là Hoa Kỳ và Âu Châu bị suy trầm, dân chúng Âu-Mỹ đang phải thắt lưng buộc bụng, giảm tiêu thụ và gia tăng tiết kiệm. Không những các thị trường Âu-Mỹ chỉ nhập cảng ít đi, mà còn cố gắng xuất cảng nhiều hơn để nâng sao sản xuất và giảm bớt thất nghiệp. Trong khi ấy, ngày càng có nhiều chỉ dấu cho thấy kinh tế toàn cầu đang bị nguy cơ đụng đáy lần nữa.

Bắc Kinh bần thần vì nếu tốc độ tăng trưởng không lên tới mức 8% thì thất nghiệp sẽ thành vấn đề cho đảng và nhà nước. Vì vậy, họ đang ở giữa một cuộc tranh luận mà truyền thông báo chí bắt đầu tiết lộ ra ngoài.

Từ Tháng Tư vừa qua, Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ) đã ban hành chánh sách kiểm soát khu vực địa ốc để giảm sức ép của trái bóng đầu cơ. Thí dụ như gia tăng tỷ lệ đặt tiền cọc khi mua nhà, nâng cao lãi suất tín dụng gia cư, giảm tín dụng cho các doanh nghiệp địa ốc và những người mua thêm ngôi nhà thứ hai, thứ ba… Quả nhiên là số nhà bán đã giảm mạnh, tới gần phân nửa so với năm ngoái. tại các thị trường nóng như Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh hay Hàng Châu. Chỉ vì nếu không làm bóng xì thì sẽ gặp nạn bóng bể.

Nhưng, chánh sách kềm hãm đó lại bị cưỡng chống tại nhiều nơi.

Các ngân hàng, từ Thượng Hải, Hàng Châu, Nam Kinh đến Thâm Quyến vẫn lặng lẽ tài trợ người mua căn nhà thứ ba – cho mục tiêu đầu tư, nghĩa là đầu cơ. Đằng sau các ngân hàng đó lại là chính quyền địa phương. Họ cần tài hóa lưu thông để cư dân có việc làm, ngân sách thu thêm thuế và bản thân đảng viên cán bộ có thêm hoa hồng. Vì vậy chỉ thị của trung ương không thấm xuống dưới, phép vua vẫn thua lệ làng. Mâu thẫn ấy còn được thấy giữa chỉ thị của bộ Gia cư và sự phe lờ của Hội đồng Thanh tra Ngân hàng.

Vấn đề không chỉ có vậy. Trung Quốc vẫn còn các đại gia đầy quyền thế là doanh nghiệp nhà nước. Trên nguyên tắc, các doanh nghiệp này nằm trong phạm vi quản lý và cải cách của một cơ chế đầy quyền thế làHội đồng Than trah và Quản lý Tài sản Nhà nước. Trong thực tế, các tổng công ty nhà nước vẫn hùng cứ một phương, cứ thấy có lời là nhảy vào thị trường kinh doanh khác, kể cả thị trường bất động sản (Vina(...) đang ngáp ngáp của V(...) chẳng có gì là sáng tạo!)

Và chính là doanh nghiệp nhà nước, được ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ với tín dụng nhẹ lãi đã góp phần thổi lên trái bóng địa ốc. Họ trở nên đại gia địa ốc và làm chủ nhiều khoanh đất bát ngát – tài sản đầu tư của doanh nghiệp. Vì vậy, Hội đồng Quản lý Tài sản Nhà nước (viết tắt theo Anh ngữ là SASAC) phải ra chỉ thị điều hướng cách kinh doanh chệch hướng của công ty quốc doanh: 78 cơ sở đã bị yêu cầu rút khỏi thị trường địa ốc để trở về mục tiêu kinh doanh pháp định ban đầu. Kết quả? Vô phương! Không những vậy, Hội đồng SASAC này còn bọc xuôi theo thực tế và nhắm mắt bỏ qua, trước sự bất lực của Quốc vụ viện và chính quyền trung ương.

Lãnh đạo Bắc Kinh càng bần thần vì sự cưỡng chống của các ngân hàng, chính quyền địa phương hay cơ quan chức năng vẫn có những lý luận “phải đạo”, có cơ sở: khu vực địa ốc gia tăng số cầu về nguyên vật liệu như sắt thép, xi măng, tạo việc làm cho khu vực xây dựng và đem tiền về cho ngân sách địa phương đang phải tăng chi để kích thích kinh tế. Nhưng, chuyện “phải đạo” ấy lại đụng vào chuyện “phải gió” cũng rất có cơ sở: gây nguy cơ lạm phát vì giá nhà gia tăng và nguy cơ tài chánh vì ngân hàng có thể mất vốn trong trò chơi đầu cơ này.

Và trên cùng là sự vô đạo của (...) với màu sắc Trung Hoa. Trong khi một thiểu số có chức có quyền thì thành đại gia, tỷ phú, là “địa ốc chi vương” với đất đai là của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và ngân hàng thống nhất tài trợ với lãi suất ưu đãi thì đa số dân chúng còn lại vẫn chưa có nhà, dù là loại nhà bình dân rẻ tiền. Ở các khu vực lạc hậu trong lục địa, tại miền Tây, thôn dân vẫn chưa ra khỏi thế kỷ 19 và nay đã thoáng biết thế nào là Trung Quốc giàu mạnh của thế kỷ 21. Họ bất mãn với tất cả và đã có những phản ứng rất lạ: vào trường giết hại học sinh. Có khi vì thất nghiệp, thất tình hay phá sản. Một chiến dịch quái đản.

Hiện tượng ấy được chính Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo đánh giá vào Tháng Tư vừa qua là “phản ảnh những mâu thuẫn trầm trọng”. Mâu thuẫn đó vừa được bộ Chính trị nghiêng mình ngó tới sau một phiên họp hôm 28 Tháng Năm. Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia, một cơ chế siêu bộ có chức năng kế hoạch, vừa phát động lại chiến dịch “Tây tiến”, sẽ thực hiện từ đầu Tháng Bảy.

Phát động lại vì 12 năm trước, thế hệ lãnh đạo thứ ba, như Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ, cũng đã thấy vấn đề và hạ quyết tâm đầu tư để phát triển miền Tây mà không kết quả vì chẳng mấy ai muốn tham dự. Bây giờ, thế hệ thứ tư như Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng phải xăn tay áo thi hành chính sách đặc biệt với quyết tâm và nhiệt tình.

Trong hai năm rưỡi tới đây, Bắc Kinh sẽ khai triển 23 dự án tại các khu vực Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Tạng và Nội Mông, để nâng cao mức sống của 158 triệu dân. Khi phí cho đợt Tây tiến này là gần 700 tỷ Nhân dân tệ, khoảng 100 tỷ đô la, bằng 2% của Tổng sản lượng toàn quốc. Nghĩa là nhiều lắm. Nhưng kích thước vĩ đại ấy vẫn là chuyện vô vị.

Thứ nhất, việc tăng chi trăm tỷ không là chuyện mới, bằng tiền tươi mà đã được ghi vào ngân sách từ năm ngoái. Thứ hai, ngạch số đầu tư “thêm” như vậy cũng chẳng đáng là bao so với ngân sách thông thường của các địa phương. Nghĩa là kế hoạch “Tây tiến’ chỉ là bức màn khói. Nhu cầu chính trị đòi hỏi vài ba cử chỉ ngoạn mục về miền Tây, thực tế thì cũng chẳng là mới lạ, vĩ đại hay là bước đột phá đáng kể.

Nếu nhìn trên tổng thể như vậy, Trung Quốc không khai thông được ách tắc và vẫn có thể bị động loạn ở địa phương. Chuyện ấy mới là đề tài đáng theo dõi trong mấy tháng tới… [NXN]

source

Việt Tribune

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Kinh Tế Trung Quốc: Tăng Trưởng Như Gió Chướng


May 14, 2010


NGUYỄN XUÂN NGHĨA/Việt Tribune

Giữa tình hình èo uột của kinh tế thế giới và vụ khủng hoảng tại Âu Châu, kinh tế Trung Quốc đang lừng lững đi lên. Và lao vào bão tố. Điều ấy mới giải thích vì sao mà thị trường chứng khoán xứ này mới đổ dốc liên tục từ đầu năm nay.
Khi lãnh đạo Âu Châu cùng các định chế tài chánh quốc tế công bố chương trình cấp cứu trị giá tới gần một ngàn tỷ Mỹ kim thì, ngày 11 tháng Năm, Trung Quốc loan báo các thống kê kinh tế của tháng Tư. Kỹ thuật thống kê của họ là đối chiếu tình hình tháng Tư năm nay với tháng Tư năm ngoái, và so với cùng kỳ năm ngoái thì sản lượng có gia tăng, cùng với đà xuất cảng, sản xuất công nghiệp, bán lẻ. Nói chung là tình hình rất khả quan nếu so với tình trạng suy trầm của đầu năm ngoái.

Thượng Hải đang tiếp tục xây dựng chuẩn bị cho Expo 2010. Feng Li/Getty Imaegs

Nhưng nếu chịu khó theo dõi, người ta có thể thấy ra một mâu thuẫn nhỏ trong một vấn đề lớn. Suốt tháng Tư, và sau khi công bố kết quả tăng trưởng tới gần 12% vào tháng Ba (so với tháng Ba năm ngoái), lãnh đạo kinh tế của Bắc Kinh liên tục thông báo các biện pháp hạ nhiệt bộ máy sản xuất để ngăn ngừa vật giá leo thang và tránh nguy cơ bể bóng đầu tư. Những biện pháp ấy chưa công hiệu và việc vừa nhấn ga vừa đạp thắng sẽ còn tiếp tục. Với kết quả thế nào thì chưa ai rõ. Đầu tiên, mối lo xương tủy của lãnh đạo Trung Quốc chính là nạn lạm phát. Lạm phát đã góp phần đánh gục đạo quân của Tưởng Giới Thạch năm xưa, đã gây ra biến động Thiên an môn năm 1989 khiến chế độ rung chuyển và mấy ngàn người bị tàn sát. Những chuyện này, các đấng con trời đỏ thỉ không quên được. Tháng Tư vừa rồi, chỉ số hàng tiêu thụ tăng 2,8% so với đà gia tăng tháng trước là 2,4%. Con số trừu tượng này chỉ có ý nghĩa khi ta biết lãi suất ký thác ngân hàng cho loại một năm là 2,25%. Nghĩa là dân chúng nên tiêu xài hơn là nên gửi tiết kiệm ngân hàng. Mà phản ứng tiêu xài ấy sẽ lại làm vật giá gia tăng. Nếu lại xét vào kỹ thuật chiết tính đà gia tăng vật giá, người ta còn nhìn ra chuyện khác. Trên bề mặt và nếu loại trừ chi tiêu về lương thực thì chỉ số vật giá chỉ tăng có 1%, hoàn toàn không đáng ngại vì thấp hơn nhiều nền kinh tế khác. Nhưng, riêng phần chi tiêu về lương thực và gia cư – ăn và ở, chuyện nhu yếu của đại đa số – thì thực phẩm tăng giá gần 6% và nhà ở tăng gần 13%. Đấy mới là đáng lo vì trong Tháng Tư, Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ) xứ này đã ráo riết ban bố các biện pháp kiểm soát giá cả trên thị trường gia cư địa ốc: những biện pháp ấy chưa công hiệu. Nghĩa là thị trường chờ đợi nhiều biện pháp còn triệt để hơn nữa trước khi kết luận về khả năng xoay trở của chính quyền. Khi kinh tế thế giới bị suy trầm từ năm 2008, Trung Quốc lập tức ban bố kế hoạch kích thích gồm có gần 600 tỷ Mỹ kim công chi và một lượng tín dụng ồ ạt chưa từng thấy, khoảng một ngàn 400 tỷ đô la cho một sản lượng quốc gia chừng năm ngàn tỷ. Từ đầu năm nay, xứ này bắt đầu hãm vòi tín dụng, như hạn chế cung cấp tín dụng mới, ba lần nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng và đòi ngân hàng tăng vốn. Kết quả là lượng tín dụng mới có giảm được một phần ba trong bốn tháng đầu năm, chừng 270 tỷ Mỹ kim. Nhưng thật ra vẫn còn là quá cao so với đầu năm ngoái. Sự kiện có vẻ kỹ thuật ấy cho thấy một sự thật chính trị: bộ máy quản lý kinh tế vĩ mô vận hành không đủ linh động và bén nhạy. Và không đạt chỉ tiêu kềm hãm lạm phát. Một điểm son về kinh tế là xuất cảng của Trung Quốc đã tăng được 30% so với Tháng Tư năm ngoái, một đà gia tăng ngoạn mục tương tự như sáu bảy năm trước. Nhờ xuất cảng tăng và nhập cảng có giảm chút ít, Trung Quốc lại đạt xuất siêu trong Tháng Tư sau khi bị nhập siêu vào tháng trước. Yếu tố chính trị đáng chú ý ở đây là mức xuất siêu ấy càng khiến hối suất qua thấp của đồng Nhân dân tệ sẽ lại trở thành vấn đề nhạy cảm trước áp lực của quốc tế. Mà điểm son ấy cũng sẽ sớm lạt phai. Kinh tế Trung Quốc lệ thuộc quá nhiều vào xuất cảng mà ba thị trường lớn nhất là Âu Châu, Hoa Kỳ và Nhật Bản đều đang có vấn đề. Khủng hoảng tại Âu Châu vì chuyện Hy Lạp và mâu thuẫn Mỹ-Hoa về mậu dịch sẽ tiếp tục đè nặng trên khả năng xuất cảng của Trung Quốc. Còn lại thì chỉ có đầu tư và tiêu thụ nội địa. Đầu tư của Trung Quốc được khu vực xương sống bơm ra là hệ thống doanh nghiệp nhà nước, nên sẽ lại bơm lên bong bóng. Nhất là khi vòi tín dụng đang bị hãm. Tiêu thụ của tư nhân thì chưa thể thay thế được đầu máy xuất cảng, và càng khó thay thế nếu Bắc Kinh tiếp tục duy trì hối suất quá thấp của đồng bạc. Tổng kết lại thì người ta thấy ra một số vấn đề chính trị đằng sau các thống kê kinh tế. Lãnh đạo xứ này cần hạ nhiệt bộ máy sản xuất mà cho đến nay chưa thấy có kết quả. Nhưng, nếu hãm đà tăng trưởng quá mạnh, như một chiếc xe đạp bị thắng quá gấp thì xe sẽ đổ. Và không đổ khe khẽ. Trong khi ấy – và đây mới là vấn đề chính – cơ cấu đầy bất trắc của một quốc gia có ba nền kinh tế tại ba khu vực khác nhau đang đòi hỏi những kế hoạch cải tổ rộng lớn hơn. Lãnh đạo Trung Quốc thuộc thế hệ thứ tư như Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã thấy ra vấn đề từ năm 2003 mà chưa cải sửa được. Nạn tổng suy trầm toàn cầu 2008-2009 càng đẩy lui hy vọng cải cách và họ chỉ còn hai năm cầm quyền trước Đại hội kỳ tới của Trung Hoa Cộng sản đảng. Một thời hạn quá ngắn nên không kịp sửa. Sau ba chục năm tăng trưởng ngoạn mục rồi trở thành lệ thuộc vào các thị trường quốc tế, kinh tế của Trung Quốc đã lên tới cực điểm và cần chuyển hướng, nếu không thì sẽ bị khủng hoảng. Hoặc đạt mức tăng trưởng thấp hơn, thất nghiệp cao hơn, nghĩa là cũng bị khủng hoảng… Chính là hoàn cảnh bấp bênh này mới giải thích vì sao lãnh đạo Bắc Kinh gia tăng kiểm soát về an ninh, trên mọi mặt. Trung ương cần tập trung quyền lực không chỉ với dân chúng mà với cả các đảng bộ địa phương. Nhìn vào các thống kê, người ta tưởng rằng kinh tế Trung Quốc đang vượt lên như thuyền buồm thuận gió. Sự thật là con thuyền đang trôi vào một vùng bão tố. Hãy chờ xem đại cường đang muốn làm chủ hải dương sẽ xoay trở ra sao với tay lái kinh tế![NXN]
source

Việt Tribune

Thứ Năm, 25 tháng 3, 2010

Thâm thủng mậu dịch trong quý một vượt quá dự báo



VIỆT NAM KINH TẾ -
Bài đăng : Thứ năm 25 Tháng Ba 2010 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 25 Tháng Ba 2010

Reuters
Thanh Phương

Các số liệu từ bộ Kế hoạch và Đầu tư được đăng trên báo chí trong nước hôm nay cho thấy, trong quý một năm nay, thâm hụt mậu dịch của Việt Nam đã lên đến 3,6 tỷ đôla, hơn một tỷ đô la so với dự báo của chính phủ.

Mức thâm thủng này chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn chỉ tiêu 20% mà chính phủ đề ra.

Vào năm ngoái, thâm thủng mậu dịch của Việt Nam là 12,2 tỷ đô la, tuy có giảm so với năm 2008, nhưng như vậy là vẫn ở mức cao. Phần lớn thâm thủng là trong trao đổi mậu dịch với Trung Quốc (11,5 tỷ đôla).

Trong khi đó, mức lạm phát của Việt Nam đang gây nhiều quan ngại. Theo số liệu do Tổng Cục Thống Kê công bố hôm qua, giá tiêu dùng của Việt Nam trong quý 1 của năm nay đã tăng 8,51 % so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu là do giá nhà ở, vật liệu xây dựng và thực phẩm tăng cao. Lạm phát ở Việt Nam đã tăng nhanh từ bảy tháng qua. Tính trong ba tháng đầu năm, lạm phát đã lên tới 4,1% và theo nhiều nhà kinh tế, lạm phát ở Việt Nam sẽ lại vượt quá 10%.

Theo ngân hàng HSBC của Hồng Kông, mức lạm phát của Việt Nam như vậy là đã lên cao ở mức đáng ngại. Một chuyên gia của ngân hàng này dự báo là áp lực lạm phát sẽ tiếp tục mạnh trong những tháng tới.

Mặc dù lạm phát đang tăng trở lại như vậy, Ngân Hàng Trung Ương Việt Nam hôm nay vẫn giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 8%, trái với tin đồn cho rằng ngân hàng này sẽ tăng lãi suất thêm 1 điểm.

source

RFI Vietnamese

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2010

Nước Mỹ thoát ra khỏi khủng hoảng 2008 như thế nào?




Duy Anh





Ngày thứ năm 18 tháng 9 năm 2008 đánh dấu ngày đen tối nhất của cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu vừa qua. Lúc 11 giờ sáng, cơ quan Fed nhận thấy các cơ sở tài chánh đang rút tiền từ các tài khoản tiền mặt theo mức độ chóng mặt $550 tỷ trong vòng hai tiếng đồng hồ. Nếu chậm hành động, Fed phỏng đoán chỉ đến 2 giờ chiều ngày hôm đó, $5.5 ngàn tỷ sẽ bị rút ra và sẽ làm sụp đổ hệ thống tài chánh Hoa Kỳ. Sau đó trong vòng 24 tiếng đồng hồ nữa, hệ thống tài chánh toàn thế giới coi như sẽ bị tê liệt hoàn toàn. Văn minh nhân loại có nguy cơ sẽ trở về thời kỳ trung cổ.

Fed và bộ Ngân Khố Hoa Kỳ vội vàng tung ra $105 tỷ cứu chữa nhưng mức độ rút tiền càng lúc càng tăng. Fed lập tức ra lệnh phong tỏa tất cả các tài khoản ngân hàng và FDIC thông báo nâng mức độ bảo đảm các tài khoản cá nhân lên $250,000 (so với $150,000 trước đó) để trấn an người dân ngưng rút tiền. Đồng thời, chính quyền Hoa Kỳ tuyên bố xuất ra một số tiền $700 tỷ cứu nguy. Sở dĩ có con số $700 tỷ vì đó là số lượng tối đa chính quyền có thể sử dụng trong trường hợp khẩn cấp mà không cần đợi Quốc Hội thông qua để nâng mức nợ quốc gia lên.

Đến lúc này thì chính quyền Mỹ nhận ra là các mảng kinh tế đang thi nhau sụp đổ hàng loạt như những con cờ domino. Bắt nguồn từ sự xuất hiện những trái phiếu địa ốc với những “phát minh” tưởng chừng như tài tình, chẳng hạn các loại nợ sub-prime, rồi mortgage-backed securities (MBS), tiếp theo là dạng collateralized debt obligations (CDO), rồi lại credit default swaps (CDS)…cho đến lúc bong bóng thị trường địa ốc vỡ tan thì toàn bộ hệ thống tài chánh lâm vào khủng hoảng là điều tất nhiên. Các ngân hàng bị khó khăn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự vay mượn của các hãng xưởng và công ty dịch vụ, đưa đến sự tắt nghẽn hoạt động kinh doanh của các ngành.

Cho đến nay nếu đổ lỗi cho cá nhân hay tổ chức nào phải chịu trách nhiệm trong cuộc khủng hoảng vừa qua cũng khó vì có quá nhiều yếu tố đã xảy ra và tích lũy từ từ cho đến khi bị bùng nổ, tương tự như sự hình thành của một cơn bão hoàn chỉnh (perfect storm). Trong đó, phải kể đến chính sách giữ phân lời thấp quá lâu của Fed, sự nới lỏng các qui định hoạt động cần thiết (deregulation), lòng tham và nỗi sợ hãi của giới đầu tư v.v…

Nếu muốn giải thích một cách đơn giản thì có thể tóm tắt như sau:

-Vì ham lợi, một số ngân hàng sáng chế hình thức cho vay nợ sub-prime là những món nợ cho những người thiếu “credit” với lãi suất cao hơn bình thường. Vì lãi suất thị trường chịu ảnh hưởng của Fed đang giữ ở mức độ thấp nên lãi suất nợ sub-prime cũng nằm ở không cao lắm. Điều này làm tăng vọt số lượng người mua nhà và giá nhà lên cao chưa từng thấy. Càng thiếu credit thì dĩ nhiên nguy cơ người vay không trả nổi nợ và lãi càng tăng.

-Để che dấu nguy cơ, các ngân hàng gom các món nợ địa ốc thành những MBS và CDO bán lại cho các công ty Fannie Mae và Freddie Mac là những cơ sở cho vay địa ốc được sự bảo trợ của chính phủ. Chính quyền Mỹ dưới thời phe Dân Chủ lúc đó chủ trương tạo điều kiện cho người dân có nhà nên sẵn sàng tài trợ cho những món nợ này. Ngoài ra, nhằm giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng chủ nợ trao đổi CDS với các công ty bảo hiểm, chẳng hạn như công ty AIG.

-Hoạt động cho vay vô tội vạ này hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chính quyền và hình thành một hệ thống tài chánh mà GS Krugman mệnh danh là hệ thống ngân hàng trong bóng tối (shadow banking system) với tổng số doanh vụ lên đến nhiều ngàn tỷ USD, vượt cả hệ thống ngân hàng chính thức. Điều sơ đẳng nhất là nguy cơ người vay không trả nợ là điều tất yếu càng lúc càng cao với sự hình thành của bong bóng địa ốc. Các ngân hàng quá tham lợi đã nhắm mắt làm ngơ, tưởng chừng như nguy cơ này đã có người khác lãnh dùm rồi.

-Đến khi thị trường địa ốc bắt đầu tan vỡ với hàng loạt những người vay nợ bỏ nhà, các ngân hàng bị lâm vào tình trạng phải nhận lãnh những căn nhà đang thi nhau rớt giá, đồng thời các công ty bảo hiểm phải bồi thường những món nợ cũng bị lâm vào tình trạng nguy ngập. Cơn bão bắt đầu hoành hành và hàng loạt những cơ sở tài chánh tuyên bố phá sản. Quả tim đã có dấu hiệu ngừng đập thì các hoạt động sản xuất và dịch vụ bị tắt nghẽn, bắt đầu sa thải công nhân và thậm chí tuyên bố phá sản theo như ngành xe hơi Hoa Kỳ. Người dân mất công ăn việc làm thì giảm niềm tin vào nền kinh tế và giảm tiêu thụ, nước Mỹ đi dần vào một cơn khủng hoảng vô tiền khoán hậu.

Chính quyền Obama khi nhậm chức vào tháng giêng 2009 đứng trước bài toán nan giải là nên cứu ngành kinh tế nào trước. Có người cho rằng chính quyền Obama đã thiên vị khi tung tiền thuế của người dân nhằm cứu “Wall Street” (ám chỉ các công ty) thay vì cứu “Main Street” là người dân đã chịu ảnh hưởng của sự ngu dốt và hám lợi của các công ty, trong đó các cơ sở tài chánh là những thủ phạm chính gây ra cuộc khủng hoảng.

Tuy nhiên nếu đánh giá một cách công bằng thì chính quyền Obama đã có một kế hoạch khá toàn diện để đối phó với cơn nguy khốn. Đối với hệ thống ngân hàng và tài chánh thì chính quyền Obama chủ trương phải cứu bằng mọi giá các công ty “quá lớn để mà thất bại” như AIG, Citigroup v.v…sau khi một vài công ty nổi tiếng như Bearn Stearns, Lehman Brothers, Merrill Lynch bị lâm vào nguy cơ phá sản. Lehman Brothers cuối cùng phải khai phá sản, Bearn Stearns thì bán lại cho JP Morgan Chase và Merrill Lynch thì nhập vào Bank of America. Các cơ sở ngân hàng và tài chánh nhỏ hơn thì chính quyền bó tay để họ khai phá sản và FDIC đứng ra thanh toán thủ tục phá sản, bán các tài sản còn lại và đền cho các thân chủ. Trong năm 2009 đã có 140 ngân hàng trung bình và nhỏ bị phá sản và từ đầu năm 2010 đến nay có 3 ngân hàng khác phải ngưng hoạt động.

Vào tháng 3/2009, chính quyền Obama đưa ra phương án Geithner, trong đó sẵn sàng chi ra $2 ngàn tỷ để làm sách hệ thống ngân hàng và giải quyết các món tài sản độc hại về địa ốc.

Đối với người dân (Main Street), chính quyền Obama tặng mỗi gia đình một số tiền “tín dụng thuế” (tax income credit) để tăng mức tiêu thụ. Tổng số tiền giảm thuế này lên đến $300 tỷ. Sau đó tặng món tiền (dưới hình thức thuế trả về) có thể lên tới $8,000 cho những người mua nhà lần đầu tiên. Nhằm kích thích mức tiêu thụ xe hơi, chính quyền thiết lập chương trình “cash for clunkers” mua lại những chiếc xe hơi cũ với giá lên dến $5,000 mỗi chiếc cho những người mua xe mới. Ngoài ra, chính quyền còn tăng thời gian được lãnh tiền thất nghiệp của những người mất việc lên thêm nhiều tháng nữa.

Những chương trình kể trên nằm trong một chương trình gọi là “economic stimulus” với tổng ngân sách $787 tỷ đã được Quốc Hội thông qua.

Bao trùm lên cả là Fed áp dụng chính sách thả lỏng tiền tệ, cắt giảm tối đa lãi suất căn bản xuống mức chưa từng thấy là 0 - 0.25% nhằm cung cấp tín dụng dồi dào cho doanh nghiệp để kích thích hoạt động.

Như vậy, nói chung cái giá phải trả để cứu nguy kinh tế có thể lên đến $3 ngàn tỷ! Đó là chưa kể một món tiền khác dự trù là $1.6 tỷ trong vòng 10 năm tới đây để cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe, nhưng đó là một câu chuyện khác.

Tiền ở đâu ra? Câu trả lời đơn giản nhất là chính phủ Mỹ cứ việc phát hành thêm, cần tới đâu phát hành tới đó. Theo CBO (Congressional Budget Office), năm 2009, chính phủ Mỹ đã ghi nhận mức thâm hụt ngân sách lên đến$1.4 ngàn tỷ và ước tính năm 2010 sẽ thâm thủng thêm $1.35 ngàn tỷ nữa. Hậu quả việc phát hành tiền quá nhiều chắc chắn sẽ đưa đến lạm phát và thiếu hụt thêm ngân sách nhà nước vì phải trả lãi trên số trái phiếu phát hành ra. Tuy nhiên nước Mỹ có lợi điểm là khả năng tác động vào lãi suất thành thử số tiền lãi phải trả được giữ ở mức thấp. Hơn nữa, số lưu lượng tiền tung ra chỉ bù đắp giá trị tài sản đã bị tan biến đi trong cơng khủng hoảng nên lạm phát vẫn nằm trong vòng kiểm tra được và chỉ có thể là một sự đe dọa trong tương lai mà thôi.

Kết quả sau một năm tiến hành các biện pháp cứu nguy, nền kinh tế Hoa Kỳ đã có những sự thay đổi khả quan. GDP trong quý 3/2009 đã tăng trưởng trở lại 2.2%, chính thức chấm dứt sự suy thoái kinh tế với 4 quý liên tiếp phá ttriển âm số. Theo dự doán, quý 4/2009 sẽ tiếp tục tăng trưởng 4.4%.

Real Gross Domestic Product. Nguồn: US Bureau Of Economic Analysis
Về lãnh vực lao động, hiện nay vẫn còn hiện tượng bị mất công ăn việc làm nhưng những tháng vừa qua các hãng xưởng đã bớt sa thải công nhân và các nhà phân tích hi vọng trong vòng một quý nữa, số lượng công việc được tạo ra sẽ cao hơn số công việc bị mất đi. Cần biết là để bảo đảm một sự phát triển đều hòa, nước Mỹ cần tạo ra một số lượng vào khoảng 200,000 công việc mới hàng tháng.

Nonfarm Payroll Employment. Nguồn: US Bureau Of Economic Analysis
Xét trên lãnh vực địa ốc mà sự sụp đổ là nguyên nhân trực tiếp đưa đến khủng hoảng, những dấu hiệu gần đây cho thấy đã có một sự chuyển biến tốt hơn rõ rệt. Số lượng nhà bị nhà băng tịch thu đã giảm đáng kể. Số lượng nhà bán được có chiều hướng gia tăng đồng thời với giá cả cũng hợp lý hơn, không còn hiện tượng bán thốc bán tháo như trước nữa. Sự phục hồi của lãnh vực địa ốc có khả năng làm tăng giá trị tài sản của người dân và từ đó đẩy mạnh được mức tiêu thụ của khu vực tư nhân là yếu tố chính đóng góp cho GDP.

Đáng kể nhất là hệ thống ngân hàng nói chung đã lấy lại được sự thăng bằng, các ngân hàng lớn đã có lợi nhuận trở lại và hầu hết đã trả lại được cho chính phủ những món tiền lớn đã vay. Theo ước tính, sự thiệt hại của của chính phủ khi ra tay cứu hệ thống ngân hàng chỉ vào khoảng trên dưới $100 tỷ, phần lớn do sự phá sản của một số ngân hàng trung bình và nhỏ.

Ngày 27 tháng 01 năm 2010 vừa qua, TT Obama ra điều trần trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã tóm tắt tình hình của quốc gia là cơn khủng hoảng tài chánh coi như đã trôi qua. Hậu quả còn lại là nạn thất nghiệp và chính quyền sẽ đặt trọng tâm trong năm 2010 sẽ giải quyết vấn đề này bằng những biện pháp cần thiết như tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp nhỏ, mở rộng lãnh vực khai thác năng lượng sạch và đặt chỉ tiêu tăng gấp đôi xuất cảng trong vòng 5 năm tới đây. Những công việc này nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Điều nhận xét rõ nhất trong buổi báo cáo của TT Obama là ông ta không hề nhắc đến cơn nguy hiểm vừa qua, cũng như những khó khăn quá lớn nào mà nước Mỹ sẽ phải đương đầu trong thời gian tới đây. Ông rất tin tưởng nước Mỹ sẽ giữ vững vị trí hàng đầu của một cường quốc về kinh tế và vấn đề thất nghiệp trước sau gì cũng được giải quyết.

Sự lạc quan của TT Obama phần nào đã tóm tắt tình hình chung sự thành công của kinh tế Mỹ trong giai đoạn hiện nay. Theo tin tức mới cập nhật thì ngày 29 tháng 01, 2010 vừa qua, bộ Thương Mại Hoa Kỳ đã loan báo sơ khởi là GDP Hoa Kỳ trong quý 4/2009 đã đạt được thành tích tăng triển 5.7%. Phải chăng nước Mỹ đã thật sự thoát ra khỏi cơng khủng hoảng? Thời gian còn quá sớm để khẳng định điều này vì tỉ lệ thất nghiệp còn quá cao nhưng ít nhất đa số các nhà phân tích đều cho rằng thật sự đã có ánh sáng ở cuối đường hầm rồi.


30/01/2010

source


© DCVOnline

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

TS Trần Lê Anh: VN không dễ kềm chế lạm phát


Kinh Doanh Cập nhật Thứ Sáu, 05 tháng 3 2010


Trong khoảng thời gian mấy ngày trước Tết cho đến nay, Việt Nam đã có những quyết định quan trọng về kinh tế. Nhân dịp này, tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts đã dành cho Ban Việt ngữ buổi trao đổi về những quyết định đó.

Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts

Tiến sĩ Trần Lê Anh, giáo sư Đại học Lasell, bang Massachusetts


VOA: Gần đây Việt Nam đã có những động thái kinh tế đáng chú ý như phá giá đồng tiền trước Tết và tăng giá 2 mặt hàng rất quan trọng, là xăng và điện, sau Tết. Điều gì đang xảy ra đối với nền kinh tế Việt Nam?

TS Trần Lê Anh: Đó là sự bộc lộ của những (...) nội tại của nền kinh tế Việt Nam. Tiền đồng bị mất giá chủ yếu là do lạm phát và nhập siêu trầm trọng gây ra. Khi người ta đổ xô đi mua đôla thì cầu sẽ vượt xa cung, gây sức ép liên tục lên tỷ giá. Như vậy bắt buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá theo hướng làm giảm bớt tiền đồng với hy vọng bảo vệ được dự trữ ngoại hối, và giảm bớt nhập siêu. Còn giá xăng và giá điện tăng phần lớn do giá thành sản xuất tăng, và do tiền đồng bị mất giá, làm cho giá nhập khẩu nhiên liệu đầu vào tăng. Qua đây ta có thể thấy hai vấn đề mấu chốt. Thứ nhất, hậu quả của những chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng để tăng trưởng kinh tế trước đây dần dần bộc lộ ra, thể hiện qua lạm phát. Thứ nhì nền kinh tế Việt Nam chưa khả năng sản xuất được nhiều mặt hàng dựa vào nguồn đầu vào trong nước; do đó phải nhập khẩu rất nhiều, đưa đến những khó khăn do nhập siêu quá cao gây ra.

VOA: Việt Nam bấy lâu nay muốn các nước khác, đặc biệt là Mỹ, công nhận mình có nền kinh tế thị trường, vậy các biện pháp phá giá tiền và tăng giá xăng, điện có phù hợp với những qui luật của kinh tế thị trường không?

TS Trần Lê Anh: Về tỷ giá thì chính sách của Việt Nam hiện nay là điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu của thị trường; nhưng có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước. Trên lý thuyết, cung cách điều hành như vậy là thích hợp trong bối cảnh của nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, khi các thị trường như tiền tệ và tài chính chưa được phát triển, rất dễ gây rủi ro khi hoàn toàn thả nổi tỷ giá theo thị trường tự do.

Nhưng trong thực tế, việc điều hành tỷ giá ở Việt Nam vẫn chưa thực sự linh hoạt, thường đợi nước đến chân mới nhảy. Cái khó ở đây là khả năng linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thường bị hạn chế bởi những mục tiêu khác của chính phủ.

Về vấn đề tăng giá xăng và điện thì khi giá đầu vào tăng thì giá đầu ra tăng là chuyện bình thường của thị trường.

Chính phủ Việt Nam cũng đang cố gắng để giá cả vận hành theo cơ chế thị trường. Hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu có thể tự điều chỉnh giá bán ra trong phạm vi cộng trừ 7% khi giá thành thay đổi; nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là khi một số thị trường quan trọng bị độc quyền hay gần như độc quyền nắm giữ thì liệu thị trường có hoạt động có hiệu suất hay không.

VOA: Thành phần nào phải hứng chịu thiệt thòi trong bối cảnh rối ren của tỷ giá và lạm phát hiện nay?

TS Trần Lê Anh:
Khi đồng bạc Việt Nam bị mất giá so với đồng đôla thì hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt đỏ hơn, vì đôla là ngoại tệ thanh toán chính cho các đơn đặt hàng nhập khẩu của Việt Nam. Vì thế cho nên trước mắt, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gặp bất lợi, và kế đến là người tiêu dùng. Ở Việt Nam có những mặt hàng nhập khẩu mà người tiêu dùng phải chấp nhận mua với giá rất cao, chẳng hạn như sữa bột cho em bé. Còn đối với diễn biến lạm phát nói chung, thì trước sự tăng giá của các mặt hàng thiết yếu như xăng và điện, thì thành phần chịu thiệt thòi nhiều nhất là những người có thu nhập thấp, chẳng hạn như các công nhân. Trong khi giá cả các nhu yếu phẩm cứ tăng mà đòi lên lương là chuyện không phải dễ, cho nên công nhân đặc biệt gặp khó khăn.

VOA: Ngoài việc gia tăng lạm phát thì việc phá giá tiền và tăng giá các mặt hàng chính có gây ra những hậu quả gì khác không?

TS Trần Lê Anh: Tất nhiên là có. Thứ nhất là yếu tố tâm lý. Khi công chúng lo sợ đồng tiền sẽ tiếp tục bị mất giá và giá cả sẽ leo thang, thì nó sẽ làm công việc điều hành chính sách của chính phủ bị giảm tác dụng. Thứ nhì, khi lạm phát có chiều hướng gia tăng mạnh, áp lực để chính phủ phải đưa ra những chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt sẽ trở nên mạnh hơn. Làm như vậy hệ quả sẽ ảnh hưởng tiêu cực lên mức độ tăng trưởng kinh tế; dẫn đến khả năng vừa đạt mục tiêu ổn định kinh tế vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế thích hợp trở nên khó khăn hơn rất nhiều

VOA: Hướng giải quyết của chính phủ Việt Nam là như thế nào và nhận xét của tiến sĩ về hướng đó ra sao?

TS Trần Lê Anh: Đối với vấn đề lạm phát thì Việt Nam đưa ra chỉ tiêu là giữ cho lạm phát không quá 7% trong năm nay. Do đó, trước những diễn biến phức tạp của giá cả thì chính phủ Việt Nam cũng có chủ trương thực hiện các biện pháp như kiểm soát giá cả, cân đối cung cầu và sử dụng các công cụ và chính sách tiền tệ để kềm chế lạm phát. Nhưng tôi nghĩ kềm chế lạm phát ở mức theo như chỉ tiêu đã định ra trong bối cảnh hiện nay không dễ chút nào. Nó phụ thuộc rất lớn vào việc chấp nhận đánh đổi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; và đó là một quyết định mang tính chất chính trị. Tôi nghĩ, trước mắt Việt Nam sẽ cố gắng kềm chế lạm phát, nhưng chỉ trong chừng mực mà ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế có thể chấp nhận được bởi yếu tố chính trị. Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã dự báo là lạm phát của Việt Nam trong năm nay sẽ là trên 7%. Có chỗ còn đưa ra con số trên 10%, như của EIU, Economist Intelligence Unit.

source

VOA Vietnamese

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Lo ngại lạm phát ở Việt Nam năm 2010




Giá cả tiêu dùng tại VN vốn đã tăng cao sau dịp Tết

Một số chuyên gia và kinh tế gia tỏ ý lo ngại là lạm phát ở Việt Nam trong năm 2010 sẽ còn tăng cao, trái với trấn an của chính phủ là sẽ đạt được mục tiêu kiềm chế được lạm phát dưới mức 7%.

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh được báo chí trong nước trích lời tỏ ý lạc quan là "sẽ thực hiện được mục tiêu giữ chỉ số tăng giá tiêu dùng năm 2010 không quá 7% như chỉ tiêu Quốc hội đã phê duyệt".

Tuy nhiên, giá cả một số mặt hàng thiết yếu đã tăng cao trong thời gian vừa qua, khiến nhiều người lo ngại.

Ngay đầu năm mới Canh Dần, giá bán lẻ xăng tại hệ thống cuả Tổng công ty Xăng dầu Petrolimex đồng loạt tăng gần 600 VND/lít.

Khi được hỏi về vấn đề này, kinh tế gia Lê Đăng Doanh từ Hà Nội nhận xét:

TS Lê Đăng Doanh: Chính phủ đã đề ra chỉ tiêu và được Quốc hội thông qua, là mức lạm phát năm 2010 này là dưới 7%. Trong khi đó, chính phủ lại đồng thời cho phép nâng giá than. Giá điện sẽ được quyết định tăng vào ngày 1/3 này, bởi vì giá than tăng thì chắc chắn là giá điện sẽ tăng. Giá xăng cũng đột ngột tăng lên vào ngày Chủ Nhật, tức là ngày mồng 8 Tết, 21/2 vừa qua.

Và chúng ta đều biết là tỉ giá đã được điều chỉnh lên. Tỉ giá điều chỉnh lên thì tác động đến tất cả các hàng nhập khẩu của Việt Nam, từ xăng dầu đến sợi đến phôi thép cho đến tất cả các mặt hàng khác.

Năm nay cũng dự kiến sẽ tăng lương, và bãi bỏ các biện pháp miễn giảm thuế của năm 2009, tức là thuế sẽ lại được thu và thậm chí là dự kiến thuế tài nguyên sẽ còn tăng lên nữa. Điều này cũng hợp l‎ý thôi, chỉ có điều là đánh vào mức độ như thế nào để cho nền kinh tế có thể chịu đựng được.

Trong bối cảnh như vậy, tôi chia sẻ sự lo ngại về việc lạm phát có thể tăng hơn mức 7% mà chính phủ đề ra.

Tôi hi vọng chính phủ sẽ xem xét một cách thận trọng trong bối cảnh là giá hiện nay đã tăng sau dịp Tết, và nếu như tăng giá điện nữa, sẽ lại làm cho mặt bằng giá tăng lên.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Ông Bộ trưởng Tài chính, trong một bài phỏng vấn với Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã tỏ ra lạc quan, và cho rằng các yếu tố đầu vào đó sẽ không có tác động gì - theo nguyên văn lời ông ấy là “tăng không đáng kể”. Tôi không hiểu là lập luận của ông ấy như thế nào, chứ hiện nay các bà nội trợ đi chợ hàng ngày đều đã biết mức độ giá tăng ra sao.

Và các doanh nghiệp mà tôi có dịp gặp qua dịp Tết rất lo ngại về việc tăng giá than, giá điện, giá nước, rồi tỉ giá lên…

BBC: Theo ông, trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, trước những diễn biến như ông vừa nêu ra, thì chính phủ cần có những biện pháp gì để có thể kiểm soát lạm phát?

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi thì điều rất quan trọng là phải có những đòn bẩy để nâng cao hiệu quả, cắt giảm chi phí và tránh cái việc là tăng giá lên quá nhiều mặt hàng đầu vào, bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến giá thành.

Thứ hai nữa là cần phải xem xét việc điều chỉnh tỉ giá hai lần liên tục trong vòng ba tháng vừa qua, nó cũng sẽ tác động đến giá cả như thế nào trước khi có các biện pháp tăng giá tới.

Tôi thì được thông báo là ngày 1/3, điện sẽ tăng giá, và Bộ Tài chính đã có đề nghị mức tăng giá cao. Tôi hi vọng là chính phủ sẽ xem xét một cách thận trọng trong bối cảnh là giá hiện nay đã tăng rồi sau dịp Tết, và nếu như tăng giá điện nữa thì điều đấy sẽ lại làm cho mặt bằng giá tăng lên nữa.

BBC: Theo cá nhân ông dự đoán thì lạm phát năm nay ở VN ở khoảng mức bao nhiêu?

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh

Ông Doanh cho rằng chính phủ phải có những đòn bẩy hiệu quả để xử lý tình trạng lạm phát

TS Lê Đăng Doanh: Tôi hiện nay chưa có căn cứ, bởi có mấy điểm như thế này: Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã nâng dự báo về giá dầu thô, từ 76 đô-la/thùng lên 78.5 đô-la/thùng trong năm 2010.

Vừa qua thì giá dầu thô cũng đã tăng. Nếu giá dầu thô tăng lên thì không phải chỉ có xăng dầu tăng, mà còn phân bón, thuốc trừ sâu rồi sợi tổng hợp… Tất cả các đầu vào sẽ tăng lên.

Điểm thứ hai, tác động đến mức độ tăng giá của Việt Nam là chính sách tín dụng. Năm 2009, tín dụng dự kiến chỉ tăng có 25%, nhưng trong thực tế đã tăng lên 38% - để đạt được mức tăng trưởng kinh tế là 5.32%.

Như vậy, cứ phải tăng 7% tín dụng thì mới đạt được 1% tăng trưởng GDP. Trong năm 2010, chính phủ muốn đạt được mức tăng trưởng GDP là 6.5%, nhưng dự kiến là mức tín dụng lại chỉ tăng 25% như kế hoạch của năm 2009. Mà thực tế, 2009 đã không thực hiện được.

Việc cắt giảm tín dụng một cách rất đột ngột vào cuối năm 2009 đã dẫn đến việc khan hiếm thanh khoản một cách đáng lo ngại của các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp. Và hiện nay nó đang lan ra trong nền kinh tế.

Cần phải có sự nới lỏng chính sách tiền tệ và tín dụng một cách hiện thực để bảo đảm nền kinh tế hoạt động. Muốn như vậy thì chính sách tiền tệ và tín dụng, sau một độ trễ nhất định, sẽ lại tác động đến mặt bằng giá cả của Việt Nam.

Còn về tỉ giá thì chúng ta đều đã biết chính phủ đã điều chỉnh tỉ giá, để hi vọng giải tỏa được kỳ vọng của người dân vào cái việc găm giữ đôla để có thể có được mức tiền đồng cao hơn sau khi bán ra trong tương lai. Tôi nghĩ đấy là biện pháp cần thiết, tuy cái giá phải trả không phải nhẹ nhàng.

source

BBC Vietnamese

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng



11/02/2010 09:32

(HNMO) - Ngân hàng Nhà nước bất ngờ tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, từ mức 17.941 VND/1USD lên 18.544 VND/1USD.

Vào cuối ngày hôm qua, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định tăng tỷ giá liên ngân hàng. Theo đó, hôm nay (11/2), tỷ giá này là 18.544 VND, so với mức 17.941 VND của ngày 10/2.

Tỷ giá liên ngân hàng là mức tham chiếu để các ngân hàng thương mại ấn định giá bằng cách cộng hoặc trừ thêm biên độ. Với biên độ 3% như hiện nay thì các ngân hàng thương mại có thể mua-bán USD với giá trần là 19.100 đồng mỗi USD.

Ảnh minh họa

Cùng với quyết định trên, cũng từ hôm nay, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng tối đa là 1%/năm.

Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc điều chỉnh trên là nhằm cân đối hài hòa cung-cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong tuần qua, lãi suất tiền gửi USD tại các ngân hàng phổ biến ở mức 2,3%-4%/năm đối với các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng (khối ngân hàng thương mại Nhà nước). Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng mức lãi suất cao, phổ biến là 3,3%-4,5%/năm.

Mức lãi suất cho vay bằng USD tại khối ngân hàng thương mại Nhà nước là 5,5-6%/năm đối với ngắn hạn và 6-7%/năm đối với trung và dài hạn. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng mức lãi suất 6-8% đối với ngắn hạn và 6,5-8% đối với trung và dài hạn.
Thanh Hương source http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh_te/308430/tang-manh-ty-gia-lien-ngan-hang.htm

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Ảo Ảnh Trung Quốc Một nền kinh tế xe đạp - được tiếp nước biển...


February 05, 2010

NGUYỄN XUÂN NGHĨA-Việt Tribune

Hôm Thứ Ba mùng hai, mải lép nhép bài diễn văn kỷ niệm (...), (...) không kịp đọc thấy một bản tin từ Bắc Kinh. Mà có đọc được thì cũng cóc hiểu. Vì vậy mới tiếp tục lép nhép chuyện hài: “Tiến lên (...) .” Đã vào thập niên đầu của thế kỷ 21 mà còn thấy kiểu phát ngôn đó thì hài kịch bỗng thành bi kịch.

Nhưng hãy nói về bản tin từ Bắc Kinh.

Năm ngày sau khi thông báo sẽ phải cải sửa lại cách thu thập và trình bày thống kê vì trong năm 2009 vừa qua đã có tới 14.500 điều sai lạc, hôm mùng hai, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc công bố thành quả tăng trưởng kinh tế của năm 2009. Trong một năm mà cả thế giới bị suy trầm kinh tế, Trung Quốc lại đạt tốc độ tăng trưởng là 8,7% thì (...) tất nhiên phải trầm trồ khen ngợi. Nhưng, họ nên học bài kinh tế nhập môn đã.

Một cửa tiệm bán linh tinh trên xe đạp tại Bắc Kinh. PETER PARKS/AFP/Getty Images

Đà tăng trưởng trung bình 8,7% này là kết số của ba thành tố: đầu tư là 8%, tiêu thụ là 4,6% và xuất cảng là -3,9%. Xin viết lại thành một phương trình cho rõ: 8,7% = 8% + 4,6% – 3,9%.

Nếu có học kinh tế nhập môn năm thứ nhất thì sinh viên trốn học cũng biết mức gia tăng sản xuất rồng cọp của Trung Quốc trong năm qua (8,7%; khi kinh tế Mỹ chỉ tăng được 0,8% mà nhờ quý bốn đạt 5,7%) là một thành tích phi thường. Nhưng rồi mỉm cười kết luận là sức mạnh rồng cọp ấy chỉ như nước biển tiếp cho bệnh nhân trong phòng cấp cứu.

Kinh tế Trung Quốc có hoàn cảnh bấp bênh của người đi xe đạp. Không lăn là té.

Sức đẩy cho cỗ xe ấy lăn bánh là xuất cảng – bằng mọi giá, tức là rất rẻ. Người dân được thắt lưng buộc bụng để xây dựng(...) với màu sắc Trung Hoa. Họ hỳ hục xuất cảng và ngoại tệ thu về thì theo đúng luật là do nhà nước quản lý. Vì vậy, xứ này có dự trữ ngoại tệ vĩ đại, tương đương với gần 2.400 tỷ Mỹ kim, trong khi người dân vẫn cực nghèo. Các doanh nghiệp hương trấn gom dân đi làm gia công để góp phần xuất cảng thì chỉ có mức lời rất thấp, nhưng vẫn ráo riết sản xuất để tạo ra công ăn việc làm cho dân chúng. Nếu không thì loạn.

Bây giờ, nhìn lại phương trình đơn giản trên, ta thấy xuất cảng đã giảm!

Đầu máy kinh tế cố hữu bỗng đầy ra ý, là ỳ ra đấy. Vì vậy, nhà nước phải nhảy vào cấp cứu như bơm nước biển đề hồi sinh một cơ thể rũ liệt: tốc độ tăng trưởng rồng cọp của Trung Quốc lệ thuộc tới 92% (8% của tổng số 8,7%) vào đầu tư của khu vực công. Phần tiêu thụ của dân chúng chỉ có 4,6%, vừa đủ trám vào khoản thiếu hụt -3,9% của xuất cảng.

Khi kinh tế bị suy trầm thì xứ nào cũng phải tìm biện pháp kích thích: bằng tiền tệ qua hạ lãi suất hay in tiền bơm vào kinh tế, hoặc qua gia tăng công chi hay giảm thuế, chủ yếu là để bù đắp cho sự thiếu hụt tiêu thụ của tư nhân. Nhìn từ bên ngoài, lãnh đạo Bắc Kinh cũng áp dụng các biện pháp ấy như gia tăng tín dụng và nâng mức công chi cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở. Nhưng nhìn kỹ hơn thì... lượng biến thành phầm, và phẩm chất rất tồi.

Trung Quốc thường xuyên chủ động bơm tiền vào kinh tế qua hai ngả công chi và tín dụng, gọi đó là đầu tư. Nhưng chủ yếu là cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước, gọi là thuộc diện chính sách, và các dự án xây dựng thuộc phạm vi phân bố và chia chác của địa phương. Tất cả là để duy trì khả năng sản xuất và chính yếu là tuyển dụng để tránh nạn thất nghiệp và động loạn xã hội.

Nhưng hệ thống ống bơm ấy lại… theo định hướng (...). Bơm vào nơi úng thủy và thổi lên bong bóng đầu tư (xin xem bài “Bong Bóng Bay Qua…” trên cột bào này trong số ra ngày 31 tháng 12). Hậu quả xã hội của chế độ kinh tế ấy là một hình thức tái phân lợi tức, và tái phân phối trước tiên cho một thiểu số có chức có quyền. Người dân lầm than thì chỉ còn một ngả là hỳ hục ráp chế hàng xuất cảng để kiếm được chút tiền vụn ở dưới cùng. Khả năng tiêu thụ rất thấp – 4,6% – phản ảnh điều ấy.

Khi xuất cảng lại sụt tại một quốc gia đang làm những người yếu bóng vía xưng tụng là đệ nhất xuất cảng toàn cầu, thì đời sống dân chúng tất nhiên là khốn đốn.

Qua năm nay và năm tới, tình hình xuất cảng có khả quan hơn không? Nhiều phần là không. Khối Âu Châu vẫn còn vất vả vì những nhược điểm nội tại. Hoa Kỳ thì đang bàng hoàng về giấc mơ cải tạo xã hội của Barack Obama và mức thất nghiệp quá cao. Cho nên số cầu của hai thị trường Âu và Mỹ sẽ chưa thể hồi sinh. Huống hồ Obama còn bị áp lực rất mạnh từ cánh tả và các nghiệp đoàn để nêu vấn đề về thế cạnh tranh bất chính của Bắc Kinh với đồng “nhân dân tệ” định giá quá thấp…

Vì vậy, tình hình xuất cảng của Trung Quốc chưa thể khá, trong khi khả năng tiêu thụ của người dân vẫn chỉ thoi thóp. Kết cuộc thì nhà nước Bắc Kinh vẫn sẽ hỳ hục tiếp nước biển, tiếp tục bơm tín dụng và tăng chi. Với bội chi ngân sách ở khoảng hơn 20% của Tổng sản lượng GDP vào năm 2008 – và chưa đạt mức kỷ lục của Obama – họ còn có thể thoải mái tăng chi.

Mà để làm chi? Hỏi vậy là đúng về kinh tế mà là sai bét! “Tăng chi cho ai” mới là câu hỏi đúng đắn!

Kinh tế Trung Quốc là cái xe đạp được giàng vào cỗ xe của thị trường quốc tế, là xuất cảng. Cố xe ấy đang lăn bánh tại chỗ. Quy luật kinh tế của Trung Quốc là tái phân phối lợi tức từ khu vực duyên hải – hướng ngoại – vào các tỉnh lạc hậu nghèo đói ở bên trong. Nhưng hệ thống kinh tế chính trị xứ này lại trao cho nhà nước và các ngân hàng chủ yếu là quốc doanh thực hiện việc tái phân phối. Kết quả là các ngân hàng bị chìm dưới một núi nợ khó đòi vì khách nợ là doanh nghiệp nhà nước và lấy tiền đi vay theo diện chính sách để thổi vào sòng bạc đầu cơ địa ốc và cổ phiếu. Trong khi các tỉnh tiếp tục được bơm tiền sản xuất rồi chất hàng vào kho mà không bán được. Miễn là cứ báo cáo lên trên là đã sản xuất vượt chỉ tiêu và không làm ai thất nghiệp!

Trung Quốc là nơi mà sản lượng thép vẫn tăng trong một năm sản xuất suy trầm, và nhà xây xong, dù bị ế và chưa bán được vẫn được ghi vào sản lượng quốc gia. Khi bị kéo và được bán lại lần nữa thì lại được ghi lần nữa!

Từ sáu năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh như Hồ Cẩm Đào, Uý Kiện Hành hay Ôn Gia Bảo đều đã biết điều ấy và muốn cải sửa, với cái giá là một đợt thanh trừng ngay trong nội bộ. Nhưng vụ suy trầm 2008-2009 là tai họa trời giáng, và nạn xuất cảng sa sút khiến cho việc cải cách bị đình hoãn. Qua năm 2012 thì lại có (...)! Ai dại gì là gây cảnh gió tanh mưa máu khi sắp bước vào hậu trường của lịch sử?

Vì vậy, trong năm nay và qua năm tới, (...) sẽ lại tiếp tục tiếp nước biển theo (...). (...) quả thật là vẫn tối dạ! [NXN]

December 31, 2009

Bong bóng bay qua...

Nguyễn Xuân Nghĩa-Việt Tribune

Thầy tưởng là ma… thầy ù thầy chạy!

Tổng kết về năm 2009 và dự báo về tương lai, người viết muốn nhìn vào bong bóng Trung Quốc. Muốn vậy thì lại phải lội ngược dòng – của truyền thông – và của lịch sử, khi trở về vụ khủng hoảng Đông Á năm 1997…

Đầu năm 1997, thế giới vẫn cứ ca tụng phép lạ rồng cọp của các nền kinh tế “tân hưng” Đông Á, như Nam Hàn, Đài Loan và các nước Đông Nam Á. Khi ấy, Trung Quốc còn lạc hậu và (...) lạc đường, chưa đáng kể. Một ngày sau khi Hong Kong “hồi quy cố quốc”, mùng hai tháng Bảy năm 1997 đó, khủng hoảng hối đoái bùng nổ tại Thái Lan rồi lan khắp Đông Á, dẫn tới nạn suy trầm toàn cầu, gây khủng hoảng cho Brazil, Argentina và Liên bang Nga rồi dội qua Mỹ.... Cuối năm 1998, dầu thô mất giá 75% và chỉ còn tám đô la một thùng!

Thiếu nữ Trung Quốc trong ngày hội dân gian Sam Yeh/Getty Images.

Nhân loại đã đón mừng thiên niên kỷ thứ ba, năm 2000, trong dư chấn của vụ khủng hoảng Đông Á này – mà chúng ta quên mất rồi!

Vì khủng hoảng hối đoái kéo theo suy sụp kinh tế, các nước đang phát triển – tân hưng hay chưa – đều quyết định giảm hối suất, ra sức xuất cảng và tích lũy một khối dự trữ ngoại tệ cực lớn để phòng ngừa tai họa. Có dự trữ rất dày, họ tìm cơ hội đầu tư và.... lại đầu tư vào Mỹ cho an toàn. Mua Công khố phiếu Mỹ là giải pháp khôn ngoan và nguồn tiền đó có góp phần thổi lên bong bóng cổ phiếu Mỹ. Bóng bể năm 2000 gây ra suy trầm. Lãi suất được hạ để kích cầu và tiền dư dôi liền trôi từ thị trường cổ phiếu qua thị trường địa ốc, để thổi lên bong bóng gia cư. Bên trong là kén nợ ung thối của loại tín dụng thứ cấp cứ được chuyền tay lăn khắp nơi. Khủng hoảng tài chính Mỹ bùng nổ từ đó, ngay giữa vụ suy trầm kinh tế manh nha từ cuối năm 2007.

Một lần nữa, thế giới lại bị suy trầm toàn cầu.

Như vậy, thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba mở màn và kết thúc với nạn suy trầm. Là chuyện cả thế giới đã nói trong năm nay. Nhưng, chuyện ấy ăn nhậu gì tới Trung Quốc?

Xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và hội nhập mạnh vào luồng giao dịch quốc tế từ 2001. Từ đấy, Trung Quốc thành nước “tân hưng” – lại là một rồng cọp nữa – trước sự thán phục của truyền thông tối dạ và sự cổ võ của giới đầu tư có ẩn ý. Người ta tái diễn sự hồ hởi của năm 1997 với các nước Đông Á. Khi kinh tế thế giới bắt đầu ra khỏi suy trầm 2008-2009, ai ai cũng nói đến tốc độ tăng trưởng 10% của Trung Quốc trong năm tới. So sánh với chừng 2,8-3,0% của Hoa Kỳ hoặc 1,2-1,4% của Âu Châu và 0,7% của Nhật Bản thì quả là phép lạ!

Trung Quốc bắn pháo bông mừng kỷ niệm 60 năm thành lập đảng CS. Feng Li/Getty Images

Vốn thiếu trí nhớ, người ta không nhìn lại tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc trước nạn suy trầm vào năm 2008: rất cao tới gần 9%, với lượng tiền lưu hoạt rất lớn, lãi suất rất rẻ.

Chiến lược kinh tế chính trị xứ này vốn là dùng ngân hàng bơm tiền rẻ – theo diện “chánh sách” – vào kinh tế để tạo ra việc làm và đạt tốc độ tăng trưởng rồng cọp mà bất kể tới phẩm chất của tăng trưởng. Khi thế giới bị chấn động vì sự đình trệ của cả ba đầu máy Âu-Mỹ-Nhật, tháng 11 năm 2008, Trung Quốc lập tức tung ra kế hoạch kích thích kinh tế, trị giá tương đương 586 tỷ đô la. Đó là về mặt chính thức.

Thực tế thì tung ra như thế nào? Chủ yếu là lại qua hệ thống “máy bơm” là các ngân hàng mà đa số là quốc doanh – và có quan hệ tốt với giới chức có quyền. Thực tế thì trong chín tháng đầu năm 2009, hệ thống ngân hàng xứ này được giải tỏa hạn chế và được yêu cầu cấp phát tín dụng cho dễ dãi. Lượng tín dụng mới tăng hơn 150% so với cùng kỳ của năm trước, lên đến một ngàn 370 tỷ đô la Mỹ! Tính đến cuối năm, là giờ đây, tổng số nợ mới có thể lên đến một ngàn 600 tỷ đô la, hơn một phần ba Tổng sản lượng Nội địa GDP!

Khi có tiền rẻ và nhiều như vậy, các đại gia ngân hàng Trung Quốc không dại. Họ kiếm lời trong khu vực nào đạt doanh lợi cao nhất. Đó là các thị trường địa ốc, cổ phiếu và thương phẩm (nguyên nhiên vật liệu và nông sản – commodities). Quả nhiên là họ tạo ra phép lạ. Thị trường cổ phiêu và địa ốc tăng giá vù vù!

Nhìn lại trên toàn cảnh thì trước khi bị suy trầm toàn cầu kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng gần 9%. Qua một giai đoạn trũng là 7-8%, sang năm tới thì đạt tốc độ 10%. Ngần ấy tiền bơm ra – gọi là đầu tư để kích thích sản xuất và tiêu thụ – đã đạt thành tích này. Nếu so sánh lượng đầu tư qua ngả tín dụng đó (là 37% GDP) với kết quả rồng cọp này, người ta phải thấy là có gì đó không ổn. Cái không ổn là tiền chảy vào chỗ trũng, gây úng thủy, là bơm lên bong bóng đầu cơ. b và bơm vào chỗ trũng.

Giới lãnh đạo ngân hàng trung ương đã báo động chuyện đó từ tháng 11 (Tân hoa xã loan tin hôm 18) mà ở bên ngoài ít ai chú ý. Bên trong, lãnh đạo Bắc Kinh phân vân giữa hai nhu cầu trái ngược: phải bơm thêm tiền để đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, nhưng đồng thời phải kiềm chế nguy cơ bong bóng hay lạm phát. Dù chưa sợ lạm phát, lãnh đạo Bắc Kinh cũng biết sợ bong bóng. Nhưng yêu cầu về xã hội – tạo ra việc làm – đi cùng tính toán lý tài của các ngân hàng, đã đẩy mạnh ưu tiên tăng trưởng. Trong ba lần liền của năm 2009 là các tháng Ba, Sáu, Chín, tình hình èo uột của sản xuất lại khiến lãnh đạo Trung Quốc vừa muốn hãm máy bơm thì lại phải tống thêm tiền vào kinh tế. Và tiếp tục bơm thêm bong bóng.

Viễn ảnh trước mắt là là nạn bể bóng, như Nhật Ban đã từng bị từ năm 1990.

Sau vụ bể bóng đó, Nhật bị khủng hoảng và đến bây giờ vẫn chưa hồi phục. Vì vụ bể bóng, các chính quyền liên tục thất cử và Thủ tướng lên xuống như đèn kéo quân. Trung Quốc thì khác vì chưa có (...). Khủng hoảng bùng nổ thì ngân hàng vỡ nợ, dân chúng tất nhiên không vui vì mất tiền tiết kiệm đã ký thác cho ngân hàng thổi bóng bóng. Dân thất nghiệp cũng vậy. Động loạn xã hội đang lây lan rất sẽ bùng nổ thành khủng hoảng (...). Và uy tín hay quyền lực của (...) sẽ bị đe dọa….

Trong khi ấy, thế giới vẫn ngợi ca Trung Quốc hoặc nói tới sự xuất hiện của một siêu cuờng kinh tế mới với sự khâm phục và lo ngại. Bong bóng bay qua, thầy tưởng là ma, thầy ù thầy chạy!

Xin đừng chạy mà nên dừng lại nhìn xem bóng bể ra sao. Và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó! [NXN]

source

Viet Tribune